Nguyên nhân thay đổi tâm tính khi có em bé
Trong thai kỳ, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi nội tiết tố liên quan đến thai nhi như các hormon estrogen, progesteron, HCG và có sự gia tăng bài tiết một số hormon tuyến yên, cận giáp, tuyến giáp và hormon buồng trứng. Việc tiết nội tiết tố nhiều hay ít quá có thể gây ra những rối loạn cảm xúc và tinh thần, có hại cho sức khỏe và sự thanh thản trí óc. Nội tiết tố thay đổi làm cảm xúc của thai phụ thai đổi theo chiều hướng mạnh hơn với các vấn đề hay nói cách khác thai phụ nhạy cảm hơn với những vấn đề xảy ra.
Cùng với các thay đổi về nội tiết, các yếu tố tâm lý xã hội không thuận lợi như : Mang thai ngoài ý muốn; làm mẹ đơn thân; sự khó khăn thiếu thốn về vật chất, kinh tế khi mang thai;thiếu sự quan tâm, chăm sóc, nâng đỡ từ gia đình; không nhận được sự chia sẻ của người chồng; áp lực giới tính của con... cũng là những yếu tố thúc đẩy phát sinh các rối loạn tâm thần kinh cho phụ nữ trước và sau sinh.
Những rối loại tâm lý thường gặp trước và sau sinh em bé
Trầm cảm
Quá lo lắng về tương lai làm mẹ của mình, thai phụ có thể gặp vấn đề về giấc ngủ, mộng du, ác mộng; có nỗi buồn dai dẳng, suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử…
Chứng trầm cảm gây hậu quả không tốt với thai phụ và thai nhi. Đó có thể là nguyên nhân dẫn đến sảy thai, đẻ non, thai phát triển không tốt, đứa trẻ sinh ra có thể mắc chứng tự kỷ, chậm phát triển.
Trầm cảm thai kỳ không có nghĩa là người đó sẽ trầm cảm sau sinh. Tuy nhiên khoảng 50% phụ nữ bị trầm cảm nặng trong thai kỳ tiếp tục bị trầm cảm sau sinh. Điều trị trong thời gian mang thai có thể làm giảm đáng kể nguy cơ trầm cảm sau sinh. Biểu hiện của trầm cảm sau sinh có thể ở các mức độ khác nhau. Nhẹ thì hay khóc, dễ xúc động không rõ nguyên nhân; người luôn mệt mỏi. Trầm cảm nặng là mẹ cảm thấy lo lắng, sau trở nên buồn rầu, cáu gắt vô cớ, có những hành vi kỳ quặc đối với đứa con mới đẻ.
Stress
Phụ nữ mang thai dễ bị stress hơn so với người khác, với nhiều biểu hiện khác nhau như buồn phiền, mất ngủ, chán ăn, không muốn giao tiếp… Có rất nhiều phản ứng tiêu cực của stress trong thai kỳ.
Thai phụ bị stress có thể gây tác hại lập tức và dài hạn cho thai, làm thời gian thai kỳ ngắn hơn, dễ sinh non, thai chết lưu - hay gặp ở 3 tháng đầu thai kỳ. Nếu stress xảy ra ở 3 tháng cuối thì nguy cơ cao nhất là thai sinh nhẹ ký. Các bà mẹ trẻ bị stress trong thời gian “bầu bí” có thể khiến cho đứa trẻ sau này mắc bệnh hen suyễn và dị ứng. Stress trong suốt thời gian mang thai có thể ảnh hưởng lớn đến nồng độ nội tiết của người mẹ dẫn đến giảm dưỡng chất được cung cấp cho thai qua nhau, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các cơ quan trọng yếu của thai nhi như: gan, tim, thận, não và ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần của trẻ về sau.
Rối loạn hành vi
Thông thường sau 2 tuần sau sinh, sản phụ mắc rối loạn hành vi hay buồn rầu, khóc lóc vô cớ, mất định hướng về không gian và thời gian, lo lắng quá mức vì sợ mắc bệnh hiểm nghèo, ít chú ý đến vệ sinh cá nhân, ăn mặc lôi thôi, hành vi thô bạo, xúc phạm người xung quanh. Nặng hơn, người mẹ có thể bỏ mặc con, hành hạ con thậm chí giết hại hoặc tự sát.
Đồng hành với người phụ nữ vượt qua rắc rối
Trong thời kỳ thai nghén, nếu có các rối loạn nhẹ, người vợ cần được sự động viên, nâng đỡ của chồng, gia đình. Thai phụ cần được nghỉ ngơi, thoải mái, làm việc nhẹ nhàng, tập thể dục và thư giãn hợp lý.
Ở thời kỳ sau đẻ, những người bị trầm cảm nhẹ nếu được khuyên giải, động viên, nâng đỡ thì phần lớn sẽ trở lại bình thường.
Những trường hợp trầm cảm nặng và có rối loạn hành vi cần được đưa vào các bệnh viện chuyên khoa tâm thần để được điều trị.
Khi bệnh đã tạm ổn định, người mẹ cần được nâng đỡ để tránh mặc cảm.Về những hậu quả mà họ gây ra trong thời gian bị bệnh, nếu cần cho biết cũng phải thông tin một cách từ từ.
Để giúp đỡ những phụ nữ này, chồng và người thân cần quan tâm, theo dõi động viên để họ vượt qua được giai đoạn khó khăn, chăm chút cho thiên thần bé bỏng mới chào đời được khỏe mạnh.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Những thay đổi của cơ thể sau khi sinh con.
Mùa xuân là thời điểm trẻ nhỏ thường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe đường ruột do sự thay đổi đột ngột trong chế độ ăn uống và sinh hoạt. Sự kết hợp giữa các bữa tiệc tùng dịp lễ Tết và điều kiện môi trường nồm ẩm đặc trưng của mùa xuân tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại tấn công hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Để giúp phụ huynh có cái nhìn đầy đủ và chủ động bảo vệ sức khỏe cho con trẻ trong giai đoạn này, hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn gây tổn hại sâu sắc cho làn da. Bụi mịn và khí độc có thể khiến da lão hóa sớm, viêm nhiễm và mất hàng rào bảo vệ tự nhiên.
TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, quy trình an toàn thực phẩm bị đứt gãy thường là kết quả của thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra độc lập và thiếu hệ thống quản lý.
Một bữa tối muộn có thể khiến bạn khó ngủ, tăng cân và ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch – nhưng nếu ăn quá sớm, bạn lại dễ bị đói về đêm. Lựa chọn đúng thời điểm cho bữa ăn cuối trong ngày tưởng chừng đơn giản, nhưng lại là “bí quyết vàng” để duy trì cân nặng, giấc ngủ và hệ tiêu hóa khỏe mạnh.
Phát triển cơ bắp đã khó, duy trì và bảo toàn khối lượng cơ theo thời gian còn khó hơn trong hành trình xây dựng hình thể khỏe đẹp...
Mùa Tết luôn mang đến không khí vui tươi, sum họp, nhưng đồng thời cũng là thời điểm tâm lý cuối năm dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực từ việc chuẩn bị. Từ việc mua sắm quà tặng, thực phẩm đến dọn dẹp nhà cửa, nhiều người cảm thấy lo âu và mệt mỏi, dẫn đến tình trạng stress kéo dài. Chính vì vậy, việc tìm kiếm những bí quyết giảm stress cho mùa Tết là điều cần thiết để mọi người có thể tận hưởng trọn vẹn không khí xuân an lành. Bài viết này sẽ khám phá các bí quyết khoa học để giảm stress mua sắm và chuẩn bị Tết, giúp bạn đón năm mới với tinh thần thoải mái và năng lượng tích cực.
Một cơ thể nhẹ nhàng, khỏe khoắn và tràn đầy năng lượng không đến từ việc nhịn ăn khắc nghiệt vài ngày, mà là kết quả của sự tái thiết lập có hệ thống các thói quen chuyển hóa.
Trà xanh và trà đen đều là nguyên liệu từ cây trà. Sự khác biệt chính nằm ở cách chế biến, hàm lượng caffeine và chất chống oxy hóa. Vậy loại nào tốt cho sức khỏe hơn?