Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

7 sai lầm khi sinh con khiến mẹ đau đớn, mất sức

Khi bị cơn đau đẻ hành hạ, mẹ sẽ chỉ muốn hét to hay nhắm tịt mắt lại nhưng thực tế đây đều là hành động sai lầm.

Ảnh minh họa/INT.

Ảnh minh họa/INT.

Sau 9 tháng 10 ngày mang thai, người mẹ sẽ bước sang giai đoạn cuối cùng là chuyển dạ và sinh con. Đây có lẽ là nỗi sợ hãi đối với nhiều mẹ bầu vì "truyền thuyết" đẻ con đau như gãy xương sườn hay không đau gì bằng đau đẻ. 

Trên thực tế, mẹ hoàn toàn có thể giảm bớt đau đớn cho bản thân, rút ngắn thời gian sinh nở bằng cách tìm hiểu kĩ càng quá trình sinh con, kĩ thuật thở và rặn khi sinh. 

Rặn sinh và thở đúng cách sẽ giúp cho cuộc sinh nở của người mẹ diễn ra nhanh chóng hơn, đỡ mất sức và tránh được các biến chứng sinh như băng huyết sau sinh, tổn thương đến vùng kín,...

Trong quá trình sinh nở, mẹ bầu nên bình tĩnh, tự tin, tuân theo chỉ dẫn của bác sĩ và tránh mắc 7 sai lầm dưới đây kẻo sẽ càng đau đớn, mất sức hơn. 

1. La hét, khóc lóc 

La hét hay khóc lóc là phản ứng sinh lý bình thường khi cơ thể phải chịu cơn đau. Tuy nhiên, vì cơn đau đẻ sẽ đến từ từ, tăng dần cấp độ nên mẹ hãy cố gắng làm quen, bình tĩnh, tránh việc la hét vì nó sẽ làm mẹ mất sức, gián đoạn nhịp thở và còn gây mất tập trung cho các y bác sĩ. 

Mẹ la hét, khóc lóc khi sinh sẽ càng thêm mất sức.

2. Nhắm mắt 

Nhiều mẹ cho rằng việc nhắm mắt sẽ giúp mình bình tĩnh hơn và dễ tập trung hơn vào nhịp thở để rặn sinh. Tuy nhiên, nếu nhắm mắt khi sinh con, mẹ sẽ dễ bị chóng mặt và không theo dõi được hướng dẫn của bác sĩ.

3. Dùng sức khi không có cơn co 

Cơn co tử cung luôn mang tính chất chu kỳ. Khi cổ tử cung đã mở hết và em bé sẵn sàng ra ngoài thì số lượng cơn co trung bình sẽ là 3 cơn/10 phút. 

Khi cơn co đến, mẹ sẽ có cảm giác đau đớn, bụng cứng lên, sau đó cảm giác đau sẽ giảm dần. Đó là khoảng thời gian cho mẹ tạm nghỉ và hồi sức. Mẹ cần theo dõi cơn co để chọn thời điểm rặn sinh chính xác, tránh dùng sức rặn khi đang vào khoảng nghỉ thì sẽ chỉ thêm mệt mà không có hiệu quả. 

4. Rặn quá mạnh 

Khi tử cung co vào cực mạnh là lúc mẹ cần rặn để bồi thêm lực giúp đẩy em bé ra ngoài. Nhưng mẹ cần chú ý là chọn thời điểm rặn chính xác quan trọng hơn nhiều so với lực rặn. 

Rặn sinh quá mạnh có thể làm tổn thương vùng kín, siết chặt cơ vùng chậu làm ảnh hưởng đến em bé. 

5. Nằm bẹp xuống giường 

Nằm thẳng lưng trên giường khi chuyển dạ sẽ chỉ làm cho mẹ thêm đau đớn và em bé khó ra hơn. Vì vậy khi rặn sinh, mẹ nên ngẩng đầu, cuộn người lại, đầu gối co lên và mở rộng hai chân. 

Ngoài ra, mẹ có thể hỏi ý kiến bác sĩ về tư thế quỳ gối khi sinh con cũng rất hiệu quả. 

Khi sinh nở, việc mẹ nằm bẹp thẳng lưng xuống giường sẽ khiến bé khó ra hơn.

6. Nín thở 

Khi rặn sinh, nhiều mẹ có xu hướng nín thở để lấy thêm lực. Tuy nhiên thực tế, việc mẹ nín thở rất nguy hiểm vì nó làm gián đoạn oxy cung cấp tới thai nhi. Do đó, thay vì nín thở, mẹ hãy hít sâu, thở mạnh theo đúng nhịp hướng dẫn của bác sĩ. 

7. Tập trung lực lên mặt 

Khi sinh con, mẹ cần tập trung lực vào phần dưới của cơ thể để siết cơ sàn chậu lại chứ không phải tạo lực lên mắt, mặt. 

Nhiều trường hợp mẹ rặn đẻ sai cách, tập trung lực lên mặt, mắt dẫn đến tình trạng vỡ mạch máu, xuất huyết và tạo cục máu đông ở mắt.

Tham khảo thông tin tại bài viết: Những nguy cơ dễ gặp khi phụ nữ sinh con muộn

Theo Giáo dục và thời đại
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

Xem thêm