Ngày 14/8, Tổng hội Y học Việt Nam phối hợp với Viện Phát triển Sức khỏe cộng đồng Ánh sáng và Viện Y học ứng dụng Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe người lao động tự do làm việc ngoài trời tại các thành phố lớn ở Việt Nam.
PGS-TS.Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam cho biết, ước tính Việt Nam hiện có khoảng 33 triệu lao động phi chính thức, chiếm hơn 50% tổng số người lao động. Đây là lực lượng lớn, gồm nhiều nhóm nghề như bán hàng rong, xe ôm, giao hàng, xây dựng, vệ sinh môi trường, thu gom phế liệu, bốc vác, lao động nông nghiệp và ngư nghiệp.
Ông Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam phát biểu tại sự kiện.PGS-TS.Nguyễn Thị Xuyên nhận định, biến đổi khí hậu kéo theo nhiều vấn đề về môi trường và sức khỏe như ô nhiễm không khí, gia tăng chất thải nguy hại, nguy cơ xuất hiện các bệnh truyền nhiễm mới nổi và tái nổi. Những hiện tượng khí hậu cực đoan như nắng nóng bất thường, bão lũ, nước biển dâng, xâm nhập mặn cũng làm thay đổi môi trường sống, ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống con người.
Với những người mưu sinh ngoài trời, tác động càng rõ nét bởi thời gian làm việc cũng chính là khoảng thời gian họ trực tiếp phơi nhiễm với các yếu tố bất lợi của khí hậu và môi trường. Không chỉ sức khỏe bị đe dọa, gián đoạn công việc do thời tiết còn có thể tác động trực tiếp đến nguồn thu nhập và sinh kế.
Để đánh giá rõ hơn vấn đề này, nghiên cứu “Tác động của biến đổi khí hậu đối với sức khỏe của một số nhóm lao động tự do làm việc ngoài trời tại các đô thị lớn ở Việt Nam” được thực hiện tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP.HCM và Cần Thơ.
Khảo sát định lượng được tiến hành với 1.208 lao động thuộc bốn nhóm nghề gồm bán hàng rong, bán vé số; lái xe ôm, xe công nghệ; bốc vác, vận chuyển và lao động xây dựng. Nhóm nghiên cứu đồng thời khảo sát định tính với 124 người và rà soát 45 văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch liên quan đến biến đổi khí hậu, sức khỏe, lao động, an toàn vệ sinh lao động và an sinh xã hội.
Kết quả cho thấy mức độ phơi nhiễm với các yếu tố khí hậu và môi trường của nhóm lao động này rất cao. Trong vòng 12 tháng tính đến thời điểm khảo sát, 95,4% người lao động tiếp xúc với nắng nóng, 71% làm việc trong điều kiện mưa lớn, 38,7% trải qua ngập lụt lớn tại nơi cư trú hoặc làm việc và 38,7% tiếp xúc với bão hoặc giông có sức gió từ cấp 8 trở lên.
Rủi ro cũng thường xuất hiện đồng thời. Có 55,6% người được khảo sát thường xuyên tiếp xúc với 6-10 yếu tố nguy cơ; 29,1% đối mặt với 11-15 yếu tố và 1,8% tiếp xúc với trên 15 yếu tố.
Trong khi đó, thời gian làm việc trung bình lên tới 8,7 giờ/ngày và 6,36 ngày/tuần, tương đương 55,3 giờ mỗi tuần. Đặc thù này khiến thời gian phơi nhiễm với nắng nóng và các yếu tố bất lợi của môi trường kéo dài.
Điều đáng lo ngại là rủi ro khí hậu lại đan xen với những hạn chế về điều kiện kinh tế - xã hội. Trong số người tham gia nghiên cứu, 42,2% từ 45 tuổi trở lên; chỉ 8,7% đã qua đào tạo chính thức về chuyên môn, nghề nghiệp; 58,8% là người tạm trú; 60,7% sống trong nhà thuê hoặc nhà trọ và 29,4% sống trong nhà tạm.
Đáng chú ý, 25,8% người được khảo sát chưa có bảo hiểm y tế, trong khi tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện chỉ 2,2%. Sự cùng tồn tại của thời gian lao động dài, điều kiện nhà ở hạn chế, độ tuổi tương đối cao và mức bao phủ bảo hiểm chưa đầy đủ khiến một bộ phận lao động dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc khí hậu.

Tỷ lệ mắc bệnh cơ - xương - khớp cũng có sự khác biệt lớn giữa các nhóm. Con số này tăng từ 6,3% ở người từ 18-29 tuổi lên 28,8% ở nhóm từ 45 tuổi trở lên. Ở nhóm có mức sống dưới 3 triệu đồng/người/tháng, tỷ lệ mắc bệnh cơ - xương - khớp là 28,1%, trong khi nhóm có mức sống trên 6 triệu đồng/người/tháng là 10,4%.
Sức khỏe tâm thần cũng là vấn đề cần quan tâm. Kết quả đánh giá bằng thang đo DASS-21 cho thấy 32,8% người tham gia có biểu hiện lo âu từ nhẹ đến rất nặng và 17,8% có biểu hiện căng thẳng từ nhẹ đến rất nặng.
Đặc biệt, tỷ lệ gặp vấn đề sức khỏe tâm thần tăng từ 20,4% ở nhóm tiếp xúc với 0-5 yếu tố nguy cơ lên 54,5% ở nhóm tiếp xúc với trên 15 yếu tố. Các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy nỗi lo không chỉ xuất phát từ thời tiết mà còn liên quan đến nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, chi phí khám chữa bệnh, khả năng duy trì công việc và trách nhiệm chăm sóc gia đình khi nguồn thu bị gián đoạn.
Nhóm nghiên cứu lưu ý, do thiết kế nghiên cứu cắt ngang, các kết quả này phản ánh mối liên quan, không được sử dụng để khẳng định quan hệ nhân quả.
Một nghịch lý đáng chú ý khác là phần lớn người lao động nhận thức được những thay đổi của khí hậu nhưng khả năng chủ động tránh rủi ro lại rất hạn chế.
Có 89,4% người được khảo sát nhận thấy thời tiết trong 5 năm gần đây đã thay đổi và 86,1% quan tâm hoặc rất quan tâm tới biến đổi khí hậu. Khi nắng nóng, 90,1% sử dụng mũ, nón hoặc khăn che đầu, cổ, gáy; 67,6% uống nước và 57,9% tìm nơi râm mát để nghỉ.
Tuy nhiên, chỉ 19,1% có thể ngừng làm việc khi nắng nóng gay gắt và vỏn vẹn 1,4% có thể chuyển sang công việc ít chịu ảnh hưởng của thời tiết. Đằng sau những con số này là sức ép sinh kế: với nhiều lao động tự do, nghỉ làm đồng nghĩa với mất thu nhập.
Áp lực mưu sinh còn ảnh hưởng tới khả năng tiếp cận dịch vụ y tế. Trong số những người không đi khám khi mắc bệnh cơ - xương - khớp, 52,6% cho biết phải đi làm và không có thời gian, 26,3% do khó khăn tài chính. Với lao động tự do, chi phí đi khám không chỉ là tiền khám chữa bệnh mà còn bao gồm khoản thu nhập bị mất trong thời gian phải nghỉ việc.
Nhu cầu được hỗ trợ vì thế khá rõ nét. Có 78% người được khảo sát mong muốn được hỗ trợ tham gia hoặc duy trì bảo hiểm y tế; 76,2% mong được hỗ trợ chi phí chăm sóc sức khỏe tại tuyến y tế cơ sở; 71,1% mong có điểm nghỉ công cộng tránh nắng, mưa; 62,6% muốn được hỗ trợ tham gia bảo hiểm xã hội và 49% mong có cơ hội chuyển sang công việc ít chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, trong khi 49% mong muốn chuyển sang công việc ít chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, thực tế chỉ 1,4% có khả năng chuyển việc khi đối mặt với nắng nóng. Khoảng cách lớn này phản ánh giới hạn trong khả năng tự thích ứng của người lao động.
Theo ông Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam, kết quả rà soát chính sách cũng chỉ ra một khoảng trống đáng lưu ý. Trong 45 văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình và kế hoạch được xem xét, chưa có văn bản nào tích hợp đồng thời ba nội dung: thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ sức khỏe nghề nghiệp và an sinh xã hội cho lao động tự do ngoài trời.
Nhóm lao động này cũng chưa được nhận diện đầy đủ như một nhóm dễ bị tổn thương trong các chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu; các cơ chế an toàn vệ sinh lao động chủ yếu được xây dựng dựa trên quan hệ lao động chính thức, trong khi dữ liệu về khí hậu, sức khỏe, lao động và an sinh còn phân tán.
Từ những kết quả trên, nhóm nghiên cứu đề xuất nhận diện rõ lao động tự do ngoài trời là nhóm dễ bị tổn thương trong các chiến lược và chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời xây dựng hướng dẫn bảo vệ sức khỏe, an toàn trong điều kiện nắng nóng, mưa bão, ngập lụt và các rủi ro khí hậu đặc thù.
Cùng với mở rộng khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khỏe ban đầu và y tế dự phòng, nghiên cứu đề xuất thí điểm các điểm nghỉ tránh nóng, mưa, cung cấp nước uống, cảnh báo sớm và sơ cứu tại những khu vực tập trung nhiều lao động ngoài trời; phát triển đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm và hỗ trợ sinh kế cho những nhóm có mức độ phơi nhiễm cao.
Những con số từ nghiên cứu cho thấy biến đổi khí hậu không còn chỉ là câu chuyện của môi trường. Với những người phải mưu sinh ngoài trời, tác động có thể kéo dài từ phơi nhiễm khí hậu đến sức khỏe, khả năng làm việc, thu nhập và sinh kế, cuối cùng làm suy giảm chính khả năng thích ứng của họ.
Bởi vậy, bảo vệ sức khỏe lao động tự do ngoài trời không thể chỉ đặt lên vai ngành Y tế, mà cần được nhìn nhận đồng thời từ chính sách khí hậu, lao động, an sinh xã hội và phát triển đô thị. Khi hàng chục triệu lao động phi chính thức đang đóng góp vào hoạt động kinh tế mỗi ngày, tăng khả năng chống chịu cho nhóm dễ bị tổn thương này cũng chính là bảo vệ nguồn nhân lực và sức chống chịu của các đô thị trước tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu.
Phòng khám chuyên khoa Dinh dưỡng VIAM (VIAM Clinic) thuộc Viện Y học ứng dụng Việt Nam tư vấn, cung cấp chế độ dinh dưỡng cá thể dành. Hãy liên hệ với VIAM Clinic nếu bạn muốn có chế độ dinh dưỡng hỗ trợ điều trị và cải thiện sức khỏe TẠI ĐÂY hoặc Hotline: 0935.18.3939 / 024.3633.5678
Link bài gốc: 33 triệu lao động phi chính thức trước sức ép của biến đổi khí hậu
Tuổi 50 là thời điểm cần chú ý thay đổi lối sống và dinh dưỡng để bảo vệ sức khỏe tim mạch.
Mùa hè mang đến những chuyến du lịch biển sôi động, những buổi dã ngoại ngoài trời và sự phong phú của các loại thực phẩm giải nhiệt. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp với độ ẩm cao lại là môi trường lý tưởng cho các loại vi khuẩn, nấm mốc phát triển và làm biến chất thức ăn với tốc độ chóng mặt.
Nhiều người băn khoăn không biết nên sử dụng rau má tươi hay rau má khô hàng ngày tốt cho sức khỏe hơn?
Giao mùa hè thu với nền nhiệt độ cao và những cơn mưa rào liên tiếp là điều kiện lý tưởng để các loài côn trùng gây bệnh sinh sôi, phát triển mạnh mẽ.
Thay đổi cách lựa chọn và kết hợp thực phẩm có thể giúp cải thiện mức cholesterol. Bốn điều chỉnh đơn giản dưới đây hỗ trợ xây dựng chế độ ăn tốt cho tim mạch.
Tư thế nằm ngủ có lẽ là điều mà bạn và cả gia đình đang lo lắng nếu nhà bạn có một em bé mới sinh: ngủ sấp hay ngửa. Bạn có biết rằng các chuyên gia đều đồng ý rằng: Cho bé ngủ nằm ngửa là cách ngủ an toàn duy nhất. Nhưng tại sao cho trẻ ngủ nằm ngửa lại quan trọng như vậy? Và khi nào bạn có thể cho bé lật người nằm sấp? Hãy đọc tiếp qua bài viết sau!
Mật ong ăn với sữa, giấm táo hay tỏi có thể giảm cholesterol xấu, kiểm soát đường máu, cân bằng hệ vi sinh đường ruột.
Mùa xuân là mùa đơm hoa kết trái, nhưng đối với một số bộ phận nhỏ mắc dị ứng theo mùa, đây không khác gì một ác mộng. Các hiện tượng như hắt hơi, sổ mũi, ngứa rát sẽ xảy ra thường xuyên hơn.