Giả thuyết 1: Thời tiết có thể ảnh hưởng đến cơn đau
Sự thật: Nếu các khớp xương của bạn trở nên đau nhức hơn mỗi khi trời trở lạnh hay mưa thì đây không phải chỉ là tưởng tượng đâu. Mặc dù các nghiên cứu đưa ra những kết quả khá mâu thuẫn nhưng sự thay đổi về áp suất khí quyển có thể khiến một số người – đặc biệt là những người bị viêm khớp – bị đau xương khớp trầm trọng hơn. Các chuyên gia cho rằng nguyên nhân là do sự thay đổi áp suất không khí đã tác động lên các khớp. Khi nhiệt độ tăng lên, sự gia tăng áp suất sẽ làm giảm triệu chứng đau.
Một số người có các cơn đau đầu mãn tính cũng sẽ thường xuyên xuất hiện cơn đau hoặc đau tăng lên khi thay đổi thời tiết, nhất là khi chuyển mùa, trước cơn bão, hoặc bão từ...
Giả thuyết 2: Nghỉ ngơi tốt cho các khớp xương
Sự thật: Trong quá trình hồi phục sau chấn thương, hầu hết các chuyên gia đều cho rằng nghỉ ngơi hoàn toàn tại giường là một trong những điều tồi tệ nhất bạn không nên làm nếu bị đau lưng. Nếu bạn không tích cực vận động, lâu ngày cơ thể sẽ bị mất đi các phản xạ - khiến cho tình trạng đau nặng hơn mỗi khi bạn di chuyển. Các bài tập luyện kéo giãn cơ thể, tập yoga hay các bài tập luyện sức mạnh có thể giúp giảm đau rất hiệu quả.
Giả thuyết 3: Giảm cân có thể giúp giảm nhẹ các cơn đau mãn tính
Sự thật: Nếu bạn bị thừa cân, giảm bớt trọng lượng thừa của cơ thể có thể giúp giảm bớt áp lực đè nén – và tất nhiên giảm đau trong trường hợp bạn bị đau lưng hay đau khớp xương. Theo bác sỹ Patience White thuộc Hội khớp học Hoa Kỳ, giảm bớt một vài cân nặng thực sự có thể giúp cải thiện triệu chứng đau khớp gối và khớp hông, dù chỉ 4-5 kg thôi cũng có thể giúp bệnh nhân cảm thấy sự khác biệt rõ rệt.
Giả thuyết 4: Nếu bạn không mắc bất cứ căn bệnh nào thì cảm giác đau chỉ là do tưởng tượng mà thôi
Sự thật: Việc bác sỹ không thể tìm ra nguyên nhân chính xác gây đau cũng không có nghĩa cơn đau không tồn tại hay chỉ là do tưởng tượng. Đau có nhiều cơ chế khác nhau, và một trong số đó gọi là đau cảm thụ (nghĩa là đau do tổn thương tổ chức như cơ, da, nội tạng gây kích thích vượt ngưỡng đau). Tuy nhiên do sự phức tạp của cơ thể con người mà không phải tất cả mọi nguyên nhân gây đau đều là do đau cảm thụ. Ví dụ như chứng đau cơ xơ hóa và hội chứng mệt mỏi kinh niên là hai trong số những căn bệnh có thể gây đau đớn dai dẳng.
Giả thuyết 5: Bạn không cần phải lo lắng về những cơn đau nhẹ
Sự thật: Nhiều người cho rằng đau là một triệu chứng mà bạn sẽ phải chung sống, nhưng đừng bao giờ nên phớt. Ngay cả khi việc sử dụng các thuốc giảm đau không kê đơn giúp triệu chứng đau được cải thiện nhưng bạn vẫn nên đi khám bác sỹ nếu cơn đau kéo dài trên 1-2 tuần và ngày càng tiến triển nặng hơn, và gây ảnh hưởng đến các hoạt động hàng ngày của bạn. Hãy luôn nhớ rằng đau là dấu hiệu cảnh báo một vấn đề nào đó mà cơ thể đang gặp phải.
Giả thuyết 6: Đau chỉ là một phần của quá trình lão hóa
Sự thật: Cũng giống như tình trạng bạc tóc và xuất hiện nếp nhăn, một vài cơn đau gần như là một trong những triệu chứng tự nhiên của quá trình lão hóa. Tuy nhiên cần lưu ý rằng tình trạng đau mạn tính thì khác. Phần lớn mọi người đều có thể trải qua quá trình lão hóa mà không gặp phải bất kỳ một cơn đau nào. Do vậy, nếu bạn cảm thấy phiền toái về những cơn đau mãn tính, hãy đi khám ngay. Một chuyên gia vật lý trị liệu có thể giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn.
Giả thuyết 7: Bạn sẽ bị lệ thuộc vào các thuốc giảm đau nếu sử dụng quá nhiều
Sự thật: Nếu được sử dụng đúng theo chỉ dẫn của bác sỹ, các thuốc giảm đau kê đơn tương đối an toàn và thường có hiệu quả giảm đau khá tốt trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, cơ thể bạn có thể trở nên lệ thuộc với các loại thuốc giảm đau này. Mặc dù điều đó không có nghĩa là bạn sẽ bị nghiện thuốc nhưng bạn có thể xuất hiện một vài triệu chứng cai thuốc khi ngừng đột ngột. Đây là một đáp ứng thường gặp khi sử dụng các thuốc giảm đau kê đơn kéo dài hơn vài ngày. Do vậy, điều quan trọng là phải tuân thủ chặt chẽ theo chỉ dẫn của bác sỹ khi sử dụng các thuốc giảm đau kê đơn.
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.