Ho gà là căn bệnh nhiễm trùng có thể gây tử vong và đã bùng phát trở lại tại Mỹ sau khi vaccine phòng bệnh đã ra đời. Báo cáo tại Mỹ về số ca mắc ho gà vào năm 2013 là 28.639 trường hợp, nhưng các nhà y tế công cộng Mỹ cho rằng, con số này còn nhiều hơn nữa vì có rất nhiều trường hợp ho gà không được chẩn đoán hoặc không được báo cáo lại.
Cách tốt nhất để chống lại bệnh ho gà là tiêm vaccine, nhưng vaccine không phải là biện pháp hoàn hảo nhất. Trước khi trẻ đủ 2 tháng tuổi, trẻ còn quá nhro để có thể tiêm vaccine ho gà nhưng đó lại là khoảng thời gian trẻ dễ bị nhiễm bệnh nhất. Mặc dù vaccine không bảo vệ được tất cả mọi người, nhưng nếu bạn đã được tiêm vaccine và không may nhiễm bệnh, thì các triệu chứng bệnh của bạn sẽ nhẹ hơn và bạn sẽ khỏi bệnh nhanh hơn.
Dưới đây là những sự thật bạn nên biết thêm về căn bệnh mà ai cũng có thể mắc phải này.
Ho gà là một trong số căn bệnh nhiễm khuẩn có khả năng lây lan cao nhất.
Sau thời gian ủ bệnh từ 5-21 ngày, bệnh ho gà sẽ trở nên rất dễ lây lan, khả năng lây lan của bệnh ho gà có thể ngang với bệnh sởi. Ho gà thường lây lan từ các giọt bắn mang vi khuẩn có trong không khí từ hơi thở của người bị bệnh. Khi bạn ho hoặc hắt hơi, những người khác có thể sẽ hít phải vi khuẩn chứa trong các giọt nước bọt của bạn và bị bệnh. Bệnh sẽ bắn đầu có khả năng lây lan từ khi cơn ho xuất hiện và sẽ trở nên dễ lây tnhất trong khoảng 3 tuần sau đó, theo tổ chức CDC.
Nếu được phát hiện sớm, ho gà có thể được điều trị bằng kháng sinh. Vì đây là một bệnh dễ lây nên bác sỹ thậm chí sẽ kê cho bạn cả kháng sinh dự phòng cho bạn nếu trong gia đình bạn có người bị ho gà. Nhưng nếu được chẩn đoán muộn, thì việc dùng thuốc có khả năng sẽ không kiểm soát được cơn ho. Các loại thuốc chữa ho không cần kê đơn cũng sẽ không có tác dụng gì, theo Mayo Clinic.
Bệnh ho gà có thể khiến bạn tử vong
Bệnh ho gà là một bệnh rất nguy hiểm với trẻ nhỏ, vì trẻ bị bệnh có thể sẽ bị co giật, ngừng thở, viêm phổi hoặc bị tổn thương não. Năm 2012, bệnh ho gà đã khiến 20 người tử vong, đa số nạn nhân là trẻ dưới 3 tháng tuổi. Khoảng 90% số ca tử vong vì ho gà trên toàn thế giới là ở những nước đang phát triển, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Cũng theo thống kê của WHO, trên thế giứoi có khoảng 16 triệu người bị nhiễm ho gà, 61.000 người tử vong tính đến năm 2013.
Bệnh ho gà có thể không kiểm soát được và diễn biến rất nặng
“Ho” là từ ngữ mô tả dấu hiệu ở người bệnh, họ thường có dấu hiệu thở hổn hển sau một cơn ho kéo dài. Các bậc cha mẹ chăm sóc trẻ thường sẽ nhận ra điều này. Cơn ho có thể liên tục không dừng trong khoảng 15 giây đến 1 phút, thậm chí là lâu hơn. Trong cơn ho, bé có thể gặp khó khăn với việc thở, mặt mũi ửng đỏ, hoặc tím tái, không có đủ không khí và thậm chí là ngừng thở.
Bệnh ho gà khởi phát như một cơn cảm lạnh thông thường, với dấu hiệu sốt nhẹ và ho trong tuần đầu tiên. Nhưng cơn hó sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn trong những tuần tiếp theo và có thể khiến bạn hoặc trẻ bị nôn mửa, tím tái, bầm tím, nứt xương sườn, thậm chí còn có thể khiến bạn bị thoát vị bụng và làm vỡ các mạch máu, theo mô tả của Mayo Clinic. Triệu chứng ho gà có thể rất khác nhau, kể cả về thời gian và mức độ nghiêm trọng. Những trẻ rất nhỏ thường sẽ không có cơn “ho gà” điển hình mà trẻ lớn hoặc người trưởng thành thường có. Đôi khi, trẻ nhỏ đơn thuần là chỉ bị khó thở nghiêm trọng.
Khi vi khuẩn Bordetella pertussis đi vào phổi, chúng sẽ gắn với lớp niêm mạc phổi và giải phóng ra các chất độc. Chất độc này sẽ làm liệt các lông mao lót ở lớp niêm mạc phổi, lớp lông này giúp phổi làm sạch chất nhầy thông qua những cơn ho thông thường. Ho gà cũng như các cơn ho khác, nhưng nghiêm trọng hơn ở chỗ có thể gây ảnh hưởng đến việc thở, ăn và ngủ.
Cũng như các sinh vật sống khác, vi khuẩn cũng có thể sẽ thay đổi theo thời gian. Nhiều loại vi khuẩn ho gà có thể là nguyên nhân của việc dịch ho gà xuất hiện trở lại tại Mỹ. Một nghiên cứu về các chủng vi khuẩn từ những người bị ho gà đã chỉ ra rằng 85% số người bị ho gà không có loại protein của vi khuẩn mà vaccine có thể tiêu diệt, gọi là pertactin. Một nửa số trẻ em Mỹ bị ho gà trong năm qua là những trẻ đã được tiêm vaccine. Trong năm 2012 và 2013, dữ liệu cho thấy một nửa số trẻ từ 6 tháng đến 6 tuổi bị ho gà đã được tiêm đủ 3 liều vaccine hoặc hơn, nhưng vẫn nhiễm bệnh.
Dịch bệnh ho gà đang tăng trở lại tại Mỹ
Nhờ việc tiêm chủng cho trẻ nhỏ, mà lúc đầu, dịch ho gà đã giảm đáng kể. Ví dụ, năm 1934 có 260.000 người Mỹ bị ho gà, nhưng năm 1976 chỉ có 1000 ca mắc ho gà ở Mỹ, theo thống kê của CDC.
Trong vòng vài năm trở lại đây, dịch ho gà lại đang bùng phát trở lại. Tại bang California, có 10.831 trường hợp bị ho gà báo cáo lại vào năm 2014 và 2015, và sự bùng phát trở lại này cũng được báo cáo lại tại các bang khác của Mỹ. Rất nhiều trường hợp mắc ho gà là trẻ em, nhưng có khoảng 1/3 số trường hợp mắc ho gà gần đây là ở trẻ vị thành niên và 1/5 là ở người trưởng thành. Những con số này tại Mỹ cho thấy, hiệu quả của vaccine ho gà cũng như thời gian bảo vệ của vaccine đã thay đổi.
Trẻ nhỏ bị ốm sẽ có nguy cơ bị ho gà cao hơn
Ho gà sẽ ảnh hưởng đến mọi người theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào hệ miễn dịch của người bệnh và phụ thuộc vào mức độ phát triển phổi (phổi đã phát triển hoàn toàn hay chưa). Ho gà thường nguy hiểm nhất ở những trẻ em dưới 1 tuổi, trẻ dưới 1 tuổi bị ho gà thường sẽ phải nhập viện để theo dõi. Bởi vậy, việc tiêm vaccine ho gà đầy đủ cho trẻ dưới 6 tháng là rất quan trọng. Tuy nhiên, không chỉ có trẻ nhỏ là đối tượng dễ nhiễm bệnh. Bất kỳ ai bị suy giảm miễn dịch cũng sẽ có nguy cơ bị ho gà cao hơn. Những đối tượng này bao gồm bệnh nhân ung thư, bệnh nhân được cấy ghép cơ quan nội tạng hoặc bệnh nhân bị mắc các bệnh mạn tính như hen suyễn hoặc các vấn đề khác về phổi.
Để bảo vệ những đối tượng có nguy cơ cao nhất, cha mẹ có thể ngăn không cho trẻ tiếp xúc với những người có thể bị bệnh. Hiệu ứng che phủ là cách tốt nhất để bảo vệ trẻ mới sinh: tất cả mọi người sống quanh trẻ nên được tiêm vaccine: bao gồm mẹ trong suốt thời kỳ mang thai, bố, ông bà, anh chị em và cả nhân viên y tế thường xuyên chăm sóc trẻ nữa.
Hệ miễn dịch chỉ hoạt động hiệu quả khi duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, tránh tình trạng viêm quá mức gây tổn thương mô. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng các hợp chất thực vật như Flavonoid, Catechin và Mogroside có trong các loại trà thảo mộc có khả năng can thiệp tích cực vào quá trình bảo vệ niêm mạc và điều hòa miễn dịch.
Cái lạnh thường khiến chúng ta ngại chạm tay vào những miếng mặt nạ mát lạnh. Tham khảo những loại mặt nạ phù hợp cho mùa đông và bí quyết để duy trì thói quen dưỡng da ngay cả trong những ngày giá rét nhất.
Đau nhức do phát triển là những cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói kiểu chuột rút mà trẻ em có thể gặp phải và thường gặp nhất là ở chân. Những cơn đau này thường xảy ra vào cuối ngày hoặc ban đêm, đau ở cả hai chân và tình trạng sẽ đỡ hơn khi trẻ nghỉ ngơi. Vậy nguyên nhân gây ra các cơn đau này ở trẻ là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây!
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.