Cải bắp
Trong cuốn Thảo mộc quanh nhà, thực dưỡng và làm thuốc của lương y Bùi Đắc Sáng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ, cải bắp rất giàu vitamin C. Lượng vitamin C trong cải bắp chỉ kém cà chua nhưng lại gấp 4,5 lần cà rốt và 3,6 lần khoai tây, hành tây.
Vitamin C còn được gọi là acid ascorbic - một vi chất dinh dưỡng tăng cường miễn dịch tốt nhất và cũng tham gia nhiều chức năng bình thường của cơ thể. Vitamin C hỗ trợ đề kháng, chống nhiễm trùng như cảm cúm, mau lành vết thương. Vitamin C cũng được biết là một chất chống oxy hóa, giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương từ gốc tự do. Tổn thương tế bào của gốc tự do gây ra các bệnh tim mạch, ung thư và bệnh mạn tính khác.
Ở châu Âu, từ thời thượng cổ, người dân đã biết dùng cải bắp làm thuốc và mệnh danh nó là "thầy thuốc của người nghèo". Trong Đông y, cải bắp vị ngọt, nhạt, tính lạnh, tác dụng lợi tiểu, nhuận tràng, giải độc, trị đau dạ dày, ho viêm họng khản tiếng, đau thần kinh, mụn nhọt... Loại rau này có thể chế biến thành nhiều món như luộc, nấu, xào, ăn kèm cũng các món hầm, súp, làm nộm...
Bài thuốc trị đau dạ dày, bệnh đường ruột, viêm họng ho, như sau: cải bắp tươi cùng đường và muối, ép lấy nước uống trong hai tháng. Thông thường một kg bắp cải cho 500-700 ml nước ép. Trong cải bắp có chất chống viêm loét vitamin U rất dễ phân hủy ở nhiệt độ cao, do đó phải ép lấy nước dùng.

Bắp cải giàu vitamin C, giúp tăng sức đề kháng cơ thể.
(Ảnh: Food Gallery)
Bí ngô
Lương y Sáng cho biết, bí ngô vừa là thực phẩm nhiều dinh dưỡng vừa là cây thuốc quý. Ba dưỡng chất chính trong bí ngô là chất xơ, vitamin A và vitamin C. Vitamin C tăng cường miễn dịch, chống lại các gốc tự do trong cơ thể, ngăn ngừa dấu hiệu lão hóa như nếp nhăn, các đốm nâu, bảo vệ làn da chống lại các tác hại của ánh nắng mặt trời và ngăn ngừa tình trạng mất nước, khô da.
Ngoài ra, bí ngô chứa một số chất khoáng và canxi, natri, kali. Với người già và người bệnh huyết áp, những chất này giúp ngăn ngừa loãng xương và tăng huyết áp. Bên cạnh đó, bí ngô còn chứa magie, phốtpho, sắt, đồng, mangan, crôm và nhiều yếu tố khác giúp xương phát triển. Một số công dụng khác kể đến như tăng cường hệ miễn dịch, tốt cho sự phát triển của thai nhi, chữa hen suyễn, ngăn ngừa tiểu đường, phòng ung thư do chứa nhiều chất chống oxy hóa và beta- carotene.
Hạt bí ngô rất giàu chất physterol và những axit béo omega 3, omega 6, tác dụng giảm lượng cholesterol xấu, ngăn ngừa bệnh tim mạch và huyết áp. Chất axit glutamine cần thiết cho hoạt động não bộ, có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp phản ứng chuyển hóa ở các tế bào thần kinh và não, bồi dưỡng não.
Phụ nữ thiếu sữa sau sinh, lấy 20g hạt bí tươi, bóc bỏ vỏ lấy nhân, giã nhuyễn, thêm đường trắng pha với nước nóng uống vào buổi sáng và tối khi bụng đói, liên tục trong 3-5 ngày. Phụ nữ bị tụt đầu vú, đau nhói, lấy tua cuốn của dây bí và một chút muối ăn, tất cả giã nát, hãm nước sôi, vắt nước cốt để uống.
Bí đỏ hầm đậu phụng hạt sen chữa tiểu đường, bí đỏ 200g, đậu xanh 100g, xương heo 100 g hầm ăn cho thêm gia vị vừa đủ, chữa mất ngủ.
Bí ngô hầm đậu phụng hoặc hầm xương thịt gà, vịt, ngừa đau đầu chóng mặt.
Bí ngô 200 g, đậu xanh 100 g, xương heo 100 g, hầm ăn chữa đái tháo đường.
Quả bí xanh 50-100 g hầm với thịt vịt 50 g và gia vị vừa đủ ăn trong nhiều ngày ngừa tiểu đường.
Cải soong

Rau cải soong.
(Ảnh: Famillelajoie)
Cải soong gốc châu Âu, nhập về miền Nam từ cuối thế kỷ 19, sau đó lan dần ra phía Bắc và các địa phương khác. Loài cây này trồng ở những nơi có dòng nước chảy, rãnh nước, ven bờ suối, ao, giếng đất... Trong 100g cải soong chứa 40 mg vitamin C, bên cạnh các dưỡng chất khác như vitamin A, B và muối khoáng...
Trong Đông y, cây vị hơi cay, tính mát, tác dụng kích thích tiêu hóa (nhờ chất dầu sulfonito), cung cấp chất khoáng, chống thiếu máu, lợi tiểu, giảm đường huyết, giải độc, chủ trị tiểu đường, trị ho, suy nhược cơ thể, kém ăn, mất ngủ, các bệnh về ung nhọt, bệnh đường tiết niệu...
Cải soong có thể làm thành món ăn vị thuốc. Ví dụ, chữa bệnh scorbut (tình trạng thiếu hụt vitamin C), giã 100 g cải soong vắt lấy nướt cốt uống. Cải soong nhai, ngậm chữa viêm răng lợi. Loại rau này giã, đắp chữa lở loét, hắc lào hoặc giã lấy nước cốt uống chữa bệnh đái tháo đường.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Nên ăn gì để tăng sức đề kháng trong mùa Đông?
SKĐS - Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Liên Hương vừa ký ban hành Thông tư số 52/2025/TT-BYT quy định danh mục bệnh truyền nhiễm, đối tượng và phạm vi phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc.
Uống trà không phải là giải pháp giảm cân nhanh chóng nhưng nếu biết chọn loại trà và sử dụng đúng cách có thể hỗ trợ giảm cân, giảm mỡ bụng theo thời gian.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.