Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Tăng huyết áp liên quan đến alzheimer

Tăng huyết áp điển hình được xác định khi huyết áp tối đa lớn hơn 140 và/hoặc huyết áp tối thiểu lớn hơn 90

Tăng huyết áp liên quan đến alzheimer

Huyết áp là điều thực sự cần thiết để đẩy máu được làm giàu oxy vào động mạch và đi nuôi toàn bộ cơ thể. Trị số huyết áp được biểu thị bằng hai con số: huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu) và huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương). Huyết áp tối đa là áp lực cao nhất khi tim co thắt để tống máu đi. Huyết áp tối thiểu là áp lực của của động mạch khi tim giãn ra.

120/80mmHg là một con số huyết áp đẹp dành cho tất cả mọi người. Tăng huyết áp điển hình được xác định khi huyết áp tối đa lớn hơn 140 và/hoặc huyết áp tối thiểu lớn hơn 90. Hiện tại có một số thông tin mới cập nhật của hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ là 130/80mmHg được coi là ngưỡng để chẩn đoán tăng huyết áp. Chỉ cần nâng một đến 2 giá trị so với ngưỡng này cũng đủ được chẩn đoán là tăng huyết áp.

Tại Mỹ, ước tính cứ 3 người thì có 1 người bị tăng huyết áp hoặc tiền tăng huyết áp. Thông thường, huyết áp thu cung cấp các thông tin về độ cứng của thanh mạch và áp lực cần thiết để đẩy máu đi xa. Tăng huyết áp tâm thu được coi là một yếu tố nguy cơ chính gây ra bệnh tim mạch và đột quỵ.

Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy những người tăng huyết áp, đặc biệt tăng huyết áp tâm thu là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc sa sút trí tuệ. Những nghiên cứu trước đây cũng đã chỉ ra rằng đột quỵ, thậm chí là những đột quỵ thoáng qua cũng làm tăng nguy cơ mắc Alzheimer và nhấn mạnh về lời khuyên hãy kiểm soát huyết áp được tốt để bảo vệ bộ não khỏe mạnh.

Các nghiên cứu đã chỉ ra, ở những người cao tuổi, tăng huyết áp tâm thu sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương não và các rối loạn Alzheimer. Những người tham gia nghiên cứu có huyết áp trung bình 134/71mmHg và 87% trong số đó đang uống thuốc để điều trị tăng huyết áp.

Chế độ ăn ảnh hưởng đến huyết áp

Một trong những điều quan trọng mọi người phải nhớ là thay đổi chế độ ăn giúp cải thiện tình trạng huyết áp. Giảm tối đa lượng đường đặc biệt alf đường fructose tinh chế giúp giảm huyết áp rất tốt.

Một nghiên cứu năm 2010 đã chỉ ra những người tiêu thụ hơn 74g đường tương đương với 2,5g đường trong đồ uống làm tăng thêm 77% nguy cơ tăng huyết áp ở mức 2 (160/100mmHg); tăng 26% nguy cơ huyết áp ở mức 135/85 và 30% nguy cơ tăng huyết áp ở mức 140/90.

Một thủ phạm khác trong chế độ ăn gây ra tăng huyết áp đó là chất béo dạng trans. Chất béo này gây ra xơ vữa động mạch, tăng áp lực bơm máu của tim dẫn đến tăng huyết áp. Để hạn chế chất béo này hãy tránh xa những chất béo dược hydro hóa chẳng hạn như bơ thực vật, dầu thực vật, các sản phẩm chế biến ở dạng nướng.

Cách dễ dàng nhất để cắt cả đường và những chất béo không lành mạnh trong chế độ ăn là thay thế những thực phẩm chế biến sẵnbằng các thực phẩm tươi sống. Điều này cũng giúp giảm việc khám insulin và leptin cũng giảm lượng acid uric.

Omega 3 là một chất béo giúp cân bằng huyết áp. Những người có lượng omega 3 trong máu cao có huyết áp tối đa thấp hơn 4 mmHg và 2 mmHg với huyết áp tối thiểu so với những người có lượng omega -3 trong máu thấp.

Tăng huyết áp có thể điều trị và kiểm soát dễ dàng hơn các bệnh khác. Vì vậy để có huyết áp bình thường bạn nên đi kiểm tra sức khỏe thường xuyên, tìm hiểu thật kỹ những vấn đề gây ra tăng huyết áp để biết cách phong tránh, bảo vệ sức khỏe.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những thức ăn nên tránh khi bị tăng huyết áp

 

Bs. Đào Ngọc _Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm