
Lo âu có thể làm trầm trọng thêm triệu chứng run tay do bệnh lý, ví dụ như run vô căn.
Cơ thể phản ứng thế nào khi thấy lo lắng, rối loạn lo âu?
Lo lắng là phản ứng tự nhiên của cơ thể trước những yếu tố gây căng thẳng. Khi này, cơ thể sẽ kích hoạt phản ứng “chiến hay chạy” (fight-or-flight response) để bảo vệ bản khỏi nguy cơ bị thương trước những tình huống nguy hiểm.
Tuy nhiên, lo lắng quá mức có thể trở thành rối loạn lo âu, khi nỗi lo được kích hoạt cả trong những tình huống không nguy hiểm. Ví dụ, nhiều người mắc chứng rối loạn lo âu xã hội (hay ám ảnh sợ xã hội) có thể thấy căng thẳng tột cùng khi ở trong những tình huống như tham gia vào các bữa tiệc, các buổi biểu diễn…
Nhìn chung, dưới đây là cách cơ thể bạn phản ứng với sự lo lắng:

Theo đó, mỗi khi cảm thấy lo lắng, cơ bắp cũng trở nên căng thẳng và có thể co giật, gây run. Tình trạng run mỗi khi lo lắng, căng thẳng ở người bình thường còn được gọi là cơn run sinh lý. Run sinh lý không đáng ngại và thường chỉ mang tính tạm thời, sẽ tự hết khi cảm xúc căng thẳng, lo lắng qua đi.
Tuy nhiên, nếu bạn thấy các cơn run tay khi lo âu có xu hướng ngày càng tệ hơn, ảnh hưởng tới công việc thường ngày, hãy chủ động đi khám để được chẩn đoán và có hướng điều trị sớm. Theo đó, dù lo âu không phải nguyên nhân trực tiếp gây run tay, song tình trạng này có thể khiến triệu chứng run tay do bệnh lý trở nên trầm trọng, rõ rệt hơn.
Run vô căn và rối loạn lo âu
Phòng khám chuyên khoa Dinh dưỡng VIAM (VIAM Clinic) trực thuộc Viện Y học ứng dụng Việt Nam tư vấn, cung cấp chế độ dinh dưỡng cá thể dành cho những người đang điều trị các bệnh mạn tính, trẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng, trẻ thừa cân béo phì phụ nữ mang thai và cho con bú,... Hãy liên hệ với VIAM Clinic nếu bạn muốn có chế độ dinh dưỡng hỗ trợ điều trị và cải thiện sức khỏe TẠI ĐÂY hoặc Hotline: 0935.18.3939 hoặc 024.3633.5678
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Người bị run tay nên ăn gì để kiểm soát bệnh tốt hơn?
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.