Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Những gì bạn cần biết về iode

Iode là một nguyên tố hóa học rất cần thiết cho sản xuất hormone tuyến giáp, chịu trách nhiệm điều tiết quá trình tăng trưởng và chuyển hóa của cơ thể. Bữa ăn thiếu iode sẽ làm tăng nguy cơ chậm phát triển não bộ ở trẻ em (đần độn), cholesterol cao, thờ ơ, mệt mỏi, trầm cảm, tăng cân và bướu cổ. Bạn nên nhớ rằng, quá ít iode hoặc quá nhiều iode đều có thể dẫn đến bệnh suy giáp.

Những gì bạn cần biết về iode

Loại thực phẩm nào giàu iode tự nhiên?

Iode là thành phần có trong hầu như mọi loại động vật và thực vật sống trên trái đất. Không có tiêu chuẩn chung về lượng iode trong thực phẩm, chúng sẽ khác nhau giữa các vùng trên thế giới. Thông thường, thực phẩm từ biển sẽ chứa nhiều iode nhất, sau đó đến thực phẩm có nguồn gốc động vật và cuối cùng nguồn gốc thực vật. Trong số tất cả các loại thực phẩm, rong biển được biết đến là nguồn thực phẩm giàu iode tự nhiên nhất. Trứng và các sản phẩm từ sữa cũng là nguồn cung cấp iode rất tốt.

Dưới đây là lượng iode có trong 10 loại thực phẩm phổ biến. Chú ý: chúng có thể khác nhau theo từng vùng.

Thực phẩm

Kích thước khẩu phần

Lượng iot

Rong biển khô

1g

16-2984mcg (11-1989% DV)

Cá tuyết

85g

99mcg (66%DV)

Muối được bổ sung iot

1g

77 mcg (51%DV)

Khoai tây nướng còn nguyên vỏ

1 củ trung bình

60 mcg (40%DV)

Sữa

1 cốc (235ml)

56mcg (37% DV)

Tôm

85g

35mcg (23%DV)

Cá viên chiên

2 viên

35mcg (23%DV)

Ức gà tây nướng

85g

34mcg (23%DV)

Đậu navy nấu chín

64g

32mcg (21%DV)

Dầu cá hồi đóng hộp

85g

17mcg (11%DV)

Trứng luộc

1 quả to

12mcg (8%DV)

*DV: Daily Value: Giá trị dinh dưỡng một ngày

Nguồn: Linus Pauling Institute Article on Iodine

Bạn cần bao nhiêu iode?

Trong cả cuộc đời của mình, bạn chỉ cần khoảng một thìa cà phê iode là đủ để có một sức khỏe tốt. Tuy nhiên, việc tiêu thụ cùng một lúc lượng lớn iot như vậy là rất nguy hiểm, do vậy, tốt nhất bạn hãy ăn từng chút một trong nhiều ngày. Bạn chỉ cần ăn 150mcg iode, tương đương với 1/20.000 của một thìa cà phê iode, để dáp ứng đủ nhu cầu hàng ngày.

Nếu iode có trong hầu hết các loại thực phẩm động vật và thực vật, thì tại sao có người lại bị thiếu iode?

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2003, có 54 quốc gia trên thế giới còn tình trạng thiếu iode. Nguyên nhân chính xác của tình trạng thiếu iode hiện vẫn chưa được biết rõ. Nhưng, có 2 giả thiết được đưa ra:

Tại những vùng đó, đất và nước có lượng iode rất thấp, dẫn đến lượng iode trong thực phẩm cũng thấp

Tại những vùng đó, con người ăn lượng thực phẩm tinh chế/chế biến nhiều, và trong quá trình chế biến, thực phẩm đã mất đi lượng iode tự nhiên trong đó. Ví dụ như đường tinh chế không chứa một chút iode nào cả.

Tại một số quốc gia, như Mỹ, lại có nguy cơ tiêu thụ quá nhiều iode do người dân sử dụng quá nhiều thực phẩm được bổ sung iode, ví dụ như dùng quá nhiều muối.

Quá nhiều iode có tốt không?

Lượng dung nạp iode tối đa cho người trưởng thành từ 19 tuổi trở lên là 1,1mg (1100mcg) Nguy cơ dung nạp nhiều iode có thể gây suy giáp, cường giáp và bướu cổ. Ngộ độc iode cấp tính có thể có các triệu chứng như nóng rát ở miệng, họng và dạ dày, sốt, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, mạch yếu và thậm chí là hôn mê. Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, người Nhật Bản tiêu thụ khoảng 1,2mg (1200mcg) iode một ngày và được coi là có nhiều lợi ích đối với sức khỏe, bao gồm việc bảo vệ khỏi bệnh ung thư. Iode trong chế độ ăn của người Nhật đến chủ yếu từ rong biển. Do vậy, bạn nên tham khảo ý kiến bác sỹ nếu muốn dùng iot liều cao, thật thận trọng khi làm như vậy và chỉ dùng iode liều cao trong một khoảng thời gian ngắn.

Sữa mẹ có chứa iode hay không?

Các bà mẹ cần nhớ rằng, trong sữa mẹ có chứa đủ iode cho em bé mới sinh. Lượng iode trong sữa mẹ phụ thuộc rất lớn vào chế độ ăn của người mẹ. Một khảo sát năm 1984 trên những phụ nữ người Mỹ cho thấy, lượng iode trung bình có trong sữa mẹ là 113mcg /ngày. Đối với trẻ từ 0-6 tháng tuổi, lượng iode như vậy là nhiều hơn một chút so với nhu cầu của trẻ (110mcg/ngày), nhưng với trẻ từ 7 tháng – 1 tuổi thì lượng iot trong sữa mẹ lại hơn ít hơn so với nhu cầu khuyến nghị một ngày của trẻ (130mcg/ngày). Tuy nhiên, sự thiếu hụt này không cần thiết để các bà mẹ phải ăn bổ sung iode khi đang cho con bú, vì quá nhiều iode cũng có thể gây hại cho trẻ.

Tôi không ăn muối, thịt hay rong biển. Vậy tôi có thể lấy iode từ đâu?

Bạn có thể cân nhắc đến việc uống các loại thực phẩm chức năng có chứa iode hoặc mua các loại thực phẩm được bổ sung iode, hoặc sử dụng các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật được trồng từ những vùng có nhiều iode tập trung trong đất.

Tôi bị suy giáp thì có thể ăn thực phẩm có chứa iode hay uống thực phẩm chức năng có chứa iode hay không?

Nhìn chung, trên thế giới, thiếu iode là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến suy giáp. Tuy nhiên, tại Mỹ, rất hiếm khi nguyên nhân gây suy giáp là do thiếu iot. Lý do duy nhất khiến bạn nên bổ sung thêm iode đó là nếu bạn bị suy giáp do thiếu iode. Và kể cả khi đó, bạn cũng chỉ nên bổ sung iode với lượng vừa phải. Quá nhiều hay quá ít iot đều có thể dẫn đến bệnh suy giáp.

Các nguyên nhân khác dẫn đến bệnh suy giáp bao gồm: bệnh Hashimoto, viêm tuyến giáp, suy giáp bẩm sinh, phẫu thuật cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ tuyến giáp, xạ trị tại tuyến giáp và việc sử dụng một số loại thuốc. Nếu bạn bị suy giáp vì một trong số các nguyên nhân trên (không phải do thiếu iot), Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ khuyến nghị rằng “uống bổ sung vài giọt iode hoặc ăn các loại thực phẩm giàu iode – như rong biển có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng suy giáp hoặc cường giáp của bạn” Do vậy, bạn chỉ nên tiêu thụ iode ở mức độ vừa phải để duy trì lượng iode thích hợp trong cơ thể.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viếtIod – nguyên tố vi lượng thiết yếu trong cuộc sống

PGS.TS.Nguyễn Xuân Ninh - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 03/04/2025

    Đẻ mắc vai hay dấu hiệu “con rùa” trong sản khoa

    Đẻ mắc vai hay còn gọi là dấu hiệu “con rùa” - là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai vai của em bé bị kẹt trong quá trình sinh thường. Không có dấu hiệu báo trước và không có cách nào để ngăn ngừa tình trạng này xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm việc em bé quá lớn, xương chậu của mẹ nhỏ hoặc đỡ đẻ sai tư thế. Tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm cả chấn thương thần kinh cho em bé. Cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm về tình trạng này!

  • 02/04/2025

    Nâng cao tầm vóc Việt

    Tầm vóc không chỉ là thước đo chiều cao đơn thuần mà còn phản ánh sức khỏe và sự phát triển toàn diện của một dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng chiều cao của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với bạn bè quốc tế

  • 01/04/2025

    Tăng cường miễn dịch cho trẻ mùa xuân

    Mùa xuân đến, mang theo không khí ấm áp và sức sống mới cho vạn vật. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, khí hậu biến đổi thất thường, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và mầm bệnh sinh sôi phát triển.

  • 01/04/2025

    Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ: Hiểu đúng và đồng hành cùng người tự kỷ

    Ngày 2 tháng 4 hàng năm, thế giới cùng hướng về Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ – một sự kiện do Liên Hợp Quốc khởi xướng nhằm kêu gọi sự quan tâm sâu sắc hơn đến rối loạn phổ tự kỷ (ASD).

  • 31/03/2025

    Chăm sóc da cho bé vào mùa xuân: Mẹo nhỏ cho mẹ

    Mùa xuân là thời điểm giao mùa, khí hậu thất thường, hanh khô, độ ẩm thấp, dễ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến làn da nhạy cảm của trẻ nhỏ.

  • 30/03/2025

    Những thay đổi về làn da tuổi mãn kinh

    Tuổi mãn kinh không chỉ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe sinh lý nữ, mà còn ảnh hưởng đến làn da. Chị em phụ nữ nên lưu ý điều gì khi chăm sóc da tuổi ngoài 40?

  • 30/03/2025

    Người cao tuổi và bệnh giao mùa

    Giao mùa là thời điểm chuyển tiếp giữa các mùa trong năm, kéo theo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Đối với người cao tuổi, giai đoạn này thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe do hệ miễn dịch suy giảm và cơ thể dần lão hóa.

  • 29/03/2025

    Đi bộ nhanh mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong

    Một nghiên cứu mới cho thấy, hoạt động thể chất vừa phải như đi bộ nhanh, yoga, làm vườn… mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong.

Xem thêm