Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Những điều chưa được tiết lộ về chỉ số khối cơ thể - BMI (phần 1)

Biểu đồ BMI tiêu chuẩn vẫn được coi là một công cụ quốc dân để kiểm tra sự thay đổi cân nặng của một người cũng như là công cụ đặc quyền trong các chương trình theo dõi sự thay đổi của nạn dịch béo phì

Quay trở lại những năm 1980, khi cứ khoảng 10-14% người trưởng thành trên 20 tuổi trên thế giới được coi là thừa cân, béo phì. Tiến nhanh đến ngày nay, khi mà 30% số người đang phải vật lộn với béo phì. Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới, tỷ lệ béo phì toàn thế giới hiện đã tăng gấp đôi so với năm 1980. Mục tiêu của tổ chức y tế thế giới hiện nay đó là giảm số người thừa cân béo phì tính theo chuẩn BMI.

Hiện nay WHO đang sử dụng chí số khối cơ thể (BMI) là thước đo lường cân nặng. BMI được tính bằng cách lấy cân nặng chia cho bình phương của chiều cao. Tuy vậy, BMI vẫn còn đang là vấn đề gây tranh cãi, bởi chỉ số này không đề cập đến giới, tuổi, chủng tộc- vốn vẫn ảnh hưởng đến cân nặng.

Rõ rằng dựa trên các bằng chứng rằng lượng mỡ cơ thể không phải là thứ duy nhất ảnh hưởng đến cân nặng hơn các yếu tố khác. Các yếu tố như lượng cơ, mật độ xương và thậm chí là lượng dịch trong cơ thể cũng ảnh hưởng đến cân nặng của một người. Chính vì BMI chưa đề cập đến khía cạnh đó nên một số trường hợp như vận động viên -những người có phần trăm khối lượng cơ cao sẽ được xếp vào phân loại thừa cân mặc dù họ có lối sống cực kỳ lành mạnh và có rất ít nguy cơ mắc các bệnh có liên quan đến béo phì.

Mặt khác, biểu đồ BMI tiêu chuẩn vẫn được coi là một công cụ quốc dân để kiểm tra sự thay đổi cân nặng của một người cũng như là công cụ đặc quyền trong các chương trình theo dõi sự thay đổi của nạn dịch béo phì. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng BMI càng cao thì càng có nguy cơ mắc những bệnh nhất định như bệnh tim mạch, tiểu đường typ 2, trào ngược acid dạ dày, các vấn đề về hô hấp, ngưng thở khi ngủ và một số bệnh ung thư.

Dưới đây sẽ bàn sâu hơn về BMI và sẽ tập trung vào giải quyết cân nặng của bạn.

Chính xác BMI là gì?

Chỉ số khối cơ thể là chỉ số để đo lường lượng mỡ cơ thể dựa vào chiều cao và cân nặng. Chỉ số này được áp dụng cho cả nam và nữ giới, cho mọi độ tuổi. Nói cách khác, một khi bạn đã là người lớn, BMI sẽ đi cùng bạn đến già.

BMI vốn được coi là ông hoàng quyền lực trong việc đánh giá nguy cơ béo phì, được cả bác sỹ và các nhà nghiên cứu tin dùng. Cùng với BMI, chu vi vòng eo cũng như lượng cholesterol và đường máu được coi là những yếu tố nguy cơ của nhiều loại bệnh tật liên quan đến béo phì.

Biểu đồ BMI

Dựa trên kết quả của công thức tính BMI, người ta chia ra các phân mức như sau:

Nhẹ cân, thiếu năng lượng trường diễn khi BMI dưới 18.5. Có một số gợi ý cho rằng chứng ta nên điều chỉnh con số này là 19, bởi những người có BMI 18.5 hiếm khi là có cân nặng khỏe mạnh.

  • Bình thường: BMI trong khoảng 18.5-24.9
  • Thừa cân: BMI từ 25-29.9
  • Béo phì là khi BMI trên 30

Dựa vào phân loại này, một phụ nữ trưởng thành cao 1.65m nên có cân nặng trong khoảng 51.7 -65.3 kg được coi là người khỏe mạnh bình thường. Nếu có cân nặng từ 68.0 đến 78.9kg được coi là thừa cân; 81,6kg nghĩa là béo phì. Với nam giới trưởng thành cao 1.82m có cân nặng 63.5 đến 80.3kg là bình thường, 83.4-96.6kg là thừa cân và 99.7kg là béo phì.

Nhược điểm của BMI

Trong khi BMI rất hữu ích trong việc nhận diện các vấn đề về cân nặng nhưng thực sự nó vẫn chưa phải là công cụ chuẩn xác trong đánh giá thừa cân, béo phì ở từng người. BMI vẫn có những hạn chế của riêng nó.

Lý do mà phần lớn các bác sỹ vẫn lấy BMI ra để nói với bệnh nhân rằng họ có nguy cơ mắc tiểu đường, bệnh tim mạch, tăng huyết áp, mỡ máu nếu như BMI quá cao. Những căn bệnh này thực tế xảy ra ở những người có lượng mỡ cơ thể cao hơn bình thường mặc dù có rất nhiều tranh cãi nổ ra xung quanh việc liệu có hay không việc lượng mỡ có thể trực tiếp gây ra các vấn đề sức khỏe hoặc các yếu tố lối sống không lành mạnh tích lũy các nguy cơ gây ra bệnh?

BMI ước tính quá mức lượng mỡ cơ thể của những vận động viên hoặc những người cơ bắp

Vấn đề chính lớn nhất của BMI đó là không đề cập đến các cấu phần khác của cơ thể , trong đó có cả tỉ số mỡ tự do trên tổng số mỡ cơ thể, khối lượng xương, khối lượng cơ và hình dáng cơ thể. BMI cũng không đề cập đến sự khác nhau về giới, chẳng hạn như ví trí tích mỡ.

Những nghiên cứu cũng đã chỉ ra có sự khác biệt không hề nhẹ về chủng tộc khi xét đến thành phần cơ thể. Ví dụ, những người châu Á và châu Phi có khung người nhỏ hơn những người người gốc Tây Ban Nha hoặc người Gốc Mỹ. Nhiều cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng người Mỹ gốc Phi và người gốc Tây Ban Nha có chỉ số BMI lớn hơn những người da trắng và thậm chí những yếu tố kinh tế xã hội như thu nhập, giáo dục và hoạt động thể lực, những người gốc châu Á thường có BMI thấp hơn các dân tộc khác.

Những cách giảm cân không lành mạch như chế độ ăn khắc nghiệt hoặc lạm dụng thể dục sẽ dẫn đến giảm lượng cơ và khối lượng xương.

BMI có thể đánh giá không đúng về lưỡng mỡ cơ thể ở những người cao tuổi suy giảm khối cơ nạc

Những người lớn tuổi thường bị mất cơ tự nhiên theo từng năm già đi. Điều này có thể dẫn tới sụt cân hoặc tăng cân tùy thuộc vào lối sống của mỗi người. Giảm khối lượng cơ thường sẽ dẫn tới giảm cân do đó lượng BMI cũng thấp hơn. Có nhiều cơ thực ra cũng mang lại nhiều lợi ích, vì vậy mà sút cân không nên là một mục tiêu đặc biệt là những người vốn dĩ đã khỏe mạnh rồi vì cuối cùng khi chúng ta có tuổi thì cân nặng cũng giảm đi thôi.

Thừa cân không nhất thiết là không khỏe mạnh

Một chủ đề cũng gây nhiều tranh cãi đó là một số nghiên cứu chỉ ra rằng những người lớn thừa cân không có nghĩa là sức khẻo kém hoặc sẽ có nguy cơ tử vong cao hơn người BMI ở mức bình thường.

Sẽ tốt hơn nếu những người thừa cân nhưng vòng bụng không to và lối sống lành mạnh tập trung vào việc giữ cân nặng chứ không nên cố gắng giảm cân.

Đón đọc phần tiếp theo tại http://vienyhocungdung.vn

Bs Đào Ngọc - Viện Y học ứng dụng Việt Nam (theo Draxe)
Bình luận
Tin mới
  • 27/05/2026

    6 loại trái cây tốt cho thận

    Thận đảm nhiệm nhiều chức năng để duy trì sức khỏe như điều hòa lượng nước và loại bỏ chất thải. Nếu không chăm sóc thận đúng cách, chức năng thận có thể bị suy giảm. Tham khảo một số loại trái cây tốt cho thận.

  • 27/05/2026

    11 lợi ích sức khỏe từ vỏ cam

    Có lẽ ít người biết rằng vỏ cam rất giàu một số chất dinh dưỡng, bao gồm chất xơ, vitamin C và các hợp chất thực vật như polyphenol rất có lợi cho sức khỏe.

  • 27/05/2026

    Ngủ đúng giờ: Bí mật đơn giản giúp giảm huyết áp hiệu quả

    Bạn có biết một thói quen đơn giản, dễ thực hiện vào mỗi đêm lại có thể là "chiến lược vàng" để quản lý huyết áp của mình không? Câu trả lời là: Đi ngủ đều đặn mỗi tối.

  • 26/05/2026

    3 nhóm người nên ăn hoặc uống nước dâu tằm

    Dâu tằm là loại quả dân dã nhưng giàu dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào có lợi cho sức khỏe, nhất là với một số nhóm người cụ thể.

  • 26/05/2026

    Chiều cao của người Việt: Không chỉ là câu chuyện bữa ăn

    Mặc dù chiều cao trung bình của người Việt đã cải thiện đáng kể song vẫn còn khá khiêm tốn so với thế giới. Hành trình nâng cao tầm vóc cho thế hệ trẻ đòi hỏi một chiến lược đồng bộ, dài hạn từ chính sách vĩ mô đến từng bữa ăn của mỗi gia đình.

  • 26/05/2026

    Cha mẹ cần làm gì nếu con chán ăn khi bị ốm?

    Tình trạng trẻ em từ chối thực phẩm trong giai đoạn mắc bệnh cấp tính, hay còn gọi là chán ăn bệnh lý (Pathological Anorexia), là một cơ chế tự vệ sinh học nhưng đồng thời cũng là một thách thức đối với quá trình điều trị.

  • 25/05/2026

    Bài thuốc lá mơ lông - trứng gà trị tiêu chảy

    Lá mơ lông từ lâu được dùng trong dân gian để hỗ trợ giảm triệu chứng rối loạn tiêu hóa, trong đó có tiêu chảy. Kết hợp lá mơ lông với trứng gà khá phổ biến, nhưng cần hiểu đúng và dùng hợp lý để bảo đảm an toàn.

  • 25/05/2026

    Bổ sung kẽm có thực sự giúp cải thiện giấc ngủ và năng lượng?

    Giấc ngủ là một hành vi sinh lý thiết yếu, giúp điều hòa hoạt động của cơ thể ở mọi lứa tuổi. Chất lượng giấc ngủ tốt có liên quan mật thiết đến trí nhớ, khả năng học tập và sức khỏe tinh thần. Tuy nhiên, theo thời gian, tình trạng rối loạn giấc ngủ ngày càng gia tăng, bao gồm ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), hội chứng chân không yên (RLS), mất ngủ và thiếu ngủ kéo dài. Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người trẻ được ghi nhận khá cao, ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu suất làm việc, năng suất cá nhân và tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho xã hội.

Xem thêm