Ảnh hưởng của thừa cân béo phì lên hệ vận động của trẻ em
Tình trạng thừa cân và béo phì đã và đang trở thành một nguy cơ của sức khỏe. Tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tình trạng này đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây, nhất là ở trẻ em, bên cạnh một số lượng không nhỏ các bệnh nhân bị suy dinh dưỡng.

Chẩn đoán thừa cân và béo phì
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã dùng chỉ số nhân trắc học dựa vào chiều cao và cân nặng, đó là chỉ số cơ thể (BMI) tính bằng cân nặng cơ thể (kg) chia cho chiều cao bình phương (m), và phân ra các mức độ như sau: BMI dưới 18,5 kg/m2: gọi là thiếu cân, gầy; BMI từ 18,5 - 24kg/m2: bình thường; BMI từ 25 - 30: kg/m2: thừa cân và BMI trên 30kg/m2: béo phì. Các chỉ số này thấp hơn một chút khi áp dụng cho người châu Á. Gần đây với các kỹ thuật đo thành phần cơ thể hiện đại như đo bằng máy hấp thụ năng lượng kép sử dụng tia X (DEXA) cho phép xác định chính xác khối mỡ, khối nạc, khối xương toàn thân, giúp ích nhiều cho chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh. Tuy nhiên, do giá thành còn cao nên chưa được phổ biến rộng rãi.
Đối với trẻ em, thiếu niên (từ 2 - 20 tuổi) có thể tính chỉ số BMI và đối chiếu với bảng dưới đây:


Bệnh Blount
Thừa cân và béo phì gây hậu quả chung lên cơ thể
Béo phì là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật của nhiều cơ quan, bộ phận trong cơ thể như:
Hệ tim mạch: tăng huyết áp, xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não, hẹp tắc động mạch chi.
Hệ hô hấp: giảm thông khí, ngừng thở khi ngủ là một biến chứng rất nguy hiểm.
Hệ nội tiết, chuyển hóa: tình trạng kém dung nạp glucose, kháng insulin, nặng hơn là bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa mỡ máu, tăng acid uric gây bệnh gút.
Tác động về tâm sinh lý: tự ti, trầm cảm, khó hòa nhập cộng đồng.
Một số bệnh ung thư như: ung thư thực quản, trực tràng, vú...
Những ảnh hưởng
Ảnh hưởng của béo phì bộc lộ ngay từ khi còn trẻ như đi lại chậm chạp hơn, thường bị bạn bè cùng lứa chế giễu, làm cho trẻ béo phì ngại tiếp xúc hơn và hay chơi một mình.
Khung xương bị tổn thương: sự dư thừa thể trọng khiến bộ xương của đứa trẻ béo phì bị quá tải dẫn đến biến dạng các chi dưới và cần có sự chỉnh hình: 80% số trẻ em bị vẹo đầu gối hay vẹo xương chày là những trẻ béo phì; đối với trẻ bị hoại tử dần đầu xương đùi, chủ yếu ở các bé trai, tỉ lệ đó là từ 50 - 70%. Nghiêm trọng là bệnh Blount (một dị dạng xương chày do phát triển quá mạnh), dễ bị bong gân mắt cá chân. Bệnh Blount là một rối loạn phát triển của xương ống chân (xương chày), trong đó chân thấp hơn quay vào trong, giống như một vòng cung. Bệnh Blount được cho là do ảnh hưởng của trọng lượng. Phần bên trong của xương ống chân, ngay dưới đầu gối, không phát triển bình thường, liên quan với béo phì và đi bộ sớm. Triệu chứng một hoặc cả hai cẳng chân quay vào trong. X-quang đầu gối và cẳng chân giúp khẳng định chẩn đoán. Điều trị bằng nẹp được sử dụng cho trẻ em phát triển biến dạng nghiêm trọng trước khi 3 tuổi. Nếu nẹp không hiệu quả, hoặc nếu vấn đề không được chẩn đoán cho đến khi trẻ lớn hơn, phẫu thuật thường là cần thiết. Phẫu thuật có thể liên quan đến việc cắt xương ống chân để đặt nó vào vị trí thích hợp. Lần khác, phẫu thuật được thực hiện để hạn chế sự tăng trưởng của nửa ngoài của xương ống chân. Điều này cho phép tăng trưởng tự nhiên của đứa trẻ để đảo ngược quá trình cong. Thất bại trong việc điều trị bệnh Blount của có thể dẫn đến biến dạng ngày càng tăng. Điều kiện có thể dẫn đến sự khác biệt về độ dài chân, có thể dẫn đến tàn tật nếu không được điều trị. Bệnh Blount của có thể trở lại sau khi phẫu thuật, đặc biệt là ở trẻ em.

Một bệnh lý khác cũng gặp nhiều ở trẻ em thừa cân và béo phì đó là hiện tượng trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi (slipped capital femoral epiphysis) gây tình trạng đau khớp và biến dạng khớp kiểu khớp háng xoay vào trong (coxa vara). Trượt điểm cốt hóa ở đầu trên xương đùi xảy ra do đầu trên xương đùi bị trật khỏi vị trí bình thường ở hốc hông. Rối loạn này thường xảy ra ở trẻ em từ 11 - 16 tuổi, phổ biến hơn ở trẻ em trai và người thừa cân. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, bệnh có thể phục hồi hoàn toàn, nếu không được điều trị, đầu xương đùi có thể bị hoại tử do bị gián đoạn nguồn cung cấp (hoại tử vô mạch). Triệu chứng: đau đầu gối, đau hông, chân hướng ra ngoài khi di chuyển, cứng hông, hạn chế chuyển động hông, đi lại khó khăn, đi bộ với một chân. Chẩn đoán: hỏi bệnh sử và khám thực thể; chụp X-quang. Điều trị: giảm cân, tập vật lý trị liệu hoặc phẫu thuật là cần thiết để khắc phục các khiếm khuyết.
Thoái hóa khớp, đau thắt lưng: khi trọng lượng cơ thể tăng thì sức nặng đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lưng, khớp háng, khớp gối, cổ chân làm cho các khớp này sớm bị tổn thương và lão hóa nhanh. Hậu quả là gây đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.
Nếu có bệnh đái tháo đường đi kèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ xương khớp càng rầm rộ hơn do thoái hóa khớp và do tổn thương thần kinh ngoại biên.
Điều trị béo phì ở trẻ em
Nguyên tắc chung là giảm năng lượng ăn vào và tăng năng lượng tiêu hao. Tuy nhiên, trẻ em là một cơ thể đang phát triển nên việc điều trị phải hết sức chuyên nghiệp để không thiếu chất dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ.
Mục tiêu điều trị béo phì của trẻ không phải chỉ là giảm cân. Trái lại nếu giảm cân không đúng sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ. Tùy theo tình trạng sức khỏe, bệnh tật của trẻ mà có những mục tiêu điều trị khác nhau. Thứ tự ưu tiên như sau:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sử dụng chất béo, muối và đường hợp lý cho bữa ăn của trẻ em
Giấc ngủ là một hành vi sinh lý thiết yếu, giúp điều hòa hoạt động của cơ thể ở mọi lứa tuổi. Chất lượng giấc ngủ tốt có liên quan mật thiết đến trí nhớ, khả năng học tập và sức khỏe tinh thần. Tuy nhiên, theo thời gian, tình trạng rối loạn giấc ngủ ngày càng gia tăng, bao gồm ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), hội chứng chân không yên (RLS), mất ngủ và thiếu ngủ kéo dài. Tỷ lệ rối loạn giấc ngủ ở người trẻ được ghi nhận khá cao, ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu suất làm việc, năng suất cá nhân và tạo ra gánh nặng kinh tế lớn cho xã hội.
Rau xanh cung cấp chất xơ, vitamin và chất chống oxy hóa giúp giảm gánh nặng cho gan. Một số loại rau phổ biến có thể hỗ trợ chức năng gan giải độc, nên ăn luân phiên hàng ngày.
Ung thư hiện là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu tại Việt Nam và trên thế giới. Tuy nhiên, khoảng 30–50% các trường hợp ung thư có thể phòng ngừa được thông qua thay đổi lối sống.
Nhiều người lo ngại việc ăn tinh bột sẽ làm tăng đường huyết nhưng gạo lứt lại mang đến một phản ứng hoàn toàn khác biệt. Vậy điều gì xảy ra với đường huyết khi ăn gạo lứt?
Thủy đậu tuy là bệnh lành tính ở đa số trường hợp, nhưng nếu không được chăm sóc và điều trị đúng cách, bệnh có thể gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng. Các nốt phỏng nước dễ bị vỡ, dẫn đến nhiễm trùng da, để lại sẹo hoặc biến chứng viêm mô tế bào. Ở những người có hệ miễn dịch yếu, đặc biệt là trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai và người lớn tuổi, thủy đậu có thể gây viêm phổi, viêm não hoặc nhiễm trùng huyết, đe dọa tính mạng.
Quả mận rất giàu dinh dưỡng và mang lại nhiều lợi ích sức khỏe. Giàu chất xơ, chất chống oxy hóa, vitamin và khoáng chất, quả mận có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Chiều cao của trẻ từ lâu không còn là câu chuyện riêng của từng gia đình, mà đã trở thành một phần trong mục tiêu nâng cao tầm vóc thế hệ tương lai. Thông qua chiến dịch “Vì một kỷ nguyên cao khỏe” và từ góc nhìn chuyên môn, các chuyên gia cho rằng cha mẹ cần chú ý hơn đến việc phát triển chiều cao của con, chủ động kiểm tra sớm hơn để có giải pháp tối ưu kịp thời trong giai đoạn phát triển “vàng” của trẻ.
Ung thư đại tràng, là một bệnh lý ác tính khởi phát từ ruột già hoặc đại tràng. Căn bệnh này thường bắt đầu một cách âm thầm dưới dạng những khối u nhỏ, lành tính được gọi là polyp mọc trên lớp niêm mạc bên trong đại tràng. Nếu không được tầm soát và can thiệp kịp thời, theo thời gian, một số polyp này có thể đột biến và tiến triển thành ung thư.