Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), gần một nửa số người ở Hoa Kỳ đã nhận được ít nhất một liều vaccine COVID-19, đưa đất nước đến gần hơn với giai đoạn cuối của đại dịch. Nhưng một bộ phận lớn dân số vẫn chưa được tiêm chủng. Nhiều người trong số đó là trẻ em và thanh thiếu niên, những người không đủ điều kiện tiêm vaccine COVID-19.

Thanh thiếu niên từ 12 đến 16 tuổi
FDA đã cấp một giấy phép sử dụng khẩn cấp (EUA) vào tháng 12 năm 2020 đối với vaccine Pfizer-BioNTech COVID-19 để sử dụng cho những người từ 16 tuổi trở lên. Vào ngày 10 tháng 5, FDA đã mở rộng EUA để bao gồm cả trẻ em từ 12 đến 15 tuổi. Điều này dựa trên dữ liệu do các công ty công bố vào tháng 3 cho thấy vaccine này có hiệu quả cao đối với nhóm tuổi này. Moderna đã công bố trong một phân tích ban đầu về kết quả giai đoạn 2 và 3 rằng thử nghiệm lâm sàng cho thấy vaccine này có hiệu quả chống lại nhiễm coronavirus có triệu chứng ở trẻ từ 12 đến 17 tuổi là 96%. Vaccine Johnson & Johnson COVID-19 đã được cấp phép khẩn cấp từ FDA để sử dụng cho những người từ 18 tuổi trở lên. Công ty này đã mở rộng thử nghiệm vaccine của mình vào tháng 4 cho đối tượng từ 12 đến 17 tuổi. Hiện kết quả đang chờ được công bố.
Trẻ em từ 2 đến 11 tuổi
Pfizer-BioNTech hiện đang thực hiện nghiên cứu với đối tượng trẻ em từ 6 tháng đến 11 tuổi để nghiên cứu vaccine của mình. Công ty dự kiến sẽ tìm kiếm EUA cho vaccine cho trẻ em từ 2 đến 11 tuổi vào tháng 9. Thời gian chính xác sẽ phụ thuộc vào tốc độ công ty có thể hoàn thành nghiên cứu ở nhóm tuổi này.
Moderna-NIAID cũng đang tuyển đối tượng nghiên cứu là trẻ em từ 6 tháng đến 11 tuổi để thử nghiệm vaccine cho trẻ em. Công ty chưa cho biết khi nào sẽ có kết quả từ thử nghiệm này, nhưng nếu nó tuân theo một mốc thời gian tương tự như Pfizer’s, công ty có thể yêu cầu EUA cho trẻ em từ 2 đến 11 tuổi vào đầu mùa thu.
Trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi
Pfizer-BioNTech
Thử nghiệm vaccine dành cho trẻ em đang diễn ra của Pfizer bao gồm trẻ em từ 6 tháng đến 2 tuổi. Công ty dự kiến sẽ yêu cầu EUA cho nhóm tuổi này trong quý cuối cùng của năm 2021, công ty cho biết trong cuộc gọi thu nhập vào tuần trước.
Moderna-NIAID
Moderna cũng đang tuyển đối tượng là trẻ nhỏ hơn để thử nghiệm vaccine cho trẻ em. Công ty chưa cho biết khi nào sẽ có kết quả từ thử nghiệm này, nhưng nếu nó tuân theo một mốc thời gian tương tự như của Pfizer, thì yêu cầu của EUA đối với nhóm tuổi này có thể được thực hiện vào cuối năm nay (2021). Các chuyên gia y khoa và nhi khoa cho biết họ rất mong chờ kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng này.
Sự khác biệt giữa vaccine cho người lớn và cho trẻ em
Mặc dù thành phần của vaccine không thay đổi nhưng có thể sẽ có sự thay đổi về liều lượng, các chuyên gia cho hay. Thanh thiếu niên có thể được tiêm vaccine tương tự như người lớn nhưng trẻ em dưới 12 tuổi thì có lẽ cần liều lượng thấp hơn. Với trẻ em, các nhà nghiên cứu có lẽ sẽ bắt đầu với 1/4 liều lượng thông thường. Nếu mọi thứ diễn ra ổn thỏa, họ có thể quyết định tăng liều lượng lên trong nhóm tuổi tương tự hoặc giảm liều lượng với nhóm tuổi kế tiếp. Trẻ em có thể sẽ nhận liều lượng thấp hơn bởi hệ miễn dịch của nhóm đối tượng này hoạt động hiệu quả trong việc đối phó với Covid-19. Điều này không phải lúc nào cũng đúng với tất cả các loại vaccine.
Các vaccine của Moderna và Johnson & Johnson (J&J) chỉ được sử dụng cho các đối tượng từ 18 tuổi trở lên trong khi vaccine của Pfizer áp dụng cho các đối tượng từ 16 tuổi trở lên. Moderna và Pfizer đã hoàn tất việc đăng ký nghiên cứu cho trẻ từ 12 tuổi trở lên và dự kiến công bố dữ liệu vào mùa hè này. Nếu các nhà nghiên cứu xác nhận kết quả, những đối tượng ở độ tuổi thanh thiếu niên có thể bắt đầu được tiêm vaccine khi có đủ nguồn cung.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: So sánh bản chất 3 loại vaccine Covid-19 của Pfizer-BioNTech, Moderna và Johnson&Johnson
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.
Thực tế một số trường hợp vô sinh hoặc chậm có thai khi đi khám phát hiện mắc u xơ tử cung. Vậy có phải tất cả bệnh nhân mắc u xơ tử cung đều khó có thai hay không?
Năm mới là thời điểm lý tưởng để bắt đầu hành trình cải thiện sức khỏe và vóc dáng thông qua việc xây dựng một kế hoạch tập luyện khoa học. Việc tập luyện không chỉ giúp tăng cường sức mạnh cơ bắp, cải thiện sức bền tim mạch mà còn mang lại lợi ích lâu dài như giảm nguy cơ bệnh tật, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện tâm trạng. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu sức khỏe, việc thiết lập một kế hoạch cụ thể, phù hợp với nhu cầu cá nhân và duy trì thói quen tập luyện là điều tối quan trọng. Bài viết này sẽ hướng dẫn bạn cách lập kế hoạch tập luyện hiệu quả, từ việc xác định mục tiêu đến cách duy trì động lực lâu dài.
Thực phẩm ôi thiu, nhiễm bẩn, kém vệ sinh là một trong những nguyên nhân chính gây ra các bệnh đường tiêu hóa, ung thư, dậy thì sớm, thai dị tật... và gây nhiều hệ lụy lâu dài cho sức khoẻ.