Hiện nay, bệnh được ưa dùng với tên gọi là xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch. Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn có thể gây ra bầm tím dưới da và chảy máu lâu cầm. Xét ngiệm máu thấy có giảm số lượng tiểu cầu.
Nguyên nhân gây bệnh
Thuật ngữ “vô căn” được sử dụng trước đây, để chỉ “không rõ nguyên nhân”. Nó được sử dụng vì trước đây nguyên nhân gây bệnh chưa được hiểu rõ. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế miễn dịch đã được xác định đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của bệnh. Do đó hiện nay người ta gọi bệnh này là xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch.
Tiểu cầu được sản xuất trong tủy xương, chúng giúp cầm máu bằng cách dính vào vị trí tổn thương và ngưng tập lại với nhau thành một cục máu đông để bịt kín các tổn thương mạch máu trong cơ thể. Khi số lượng tiểu cầu thấp, quá trình đông máu bị chậm lại, có thể gây ra chảy máu bên trong, bên ngoài hoặc chảy máu dưới da.
Hệ thống miễn dịch của cơ thể tạo ra các kháng thể chống lại tiểu cầu, những tiểu cầu được gắn kháng thể sẽ bị phá hủy tại lách, gây giảm số lượng tiểu cầu. Hệ thống miễn dịch bị rối loạn cũng tác động vào những tế bào chịu trách nhiệm sản xuất các tiểu cầu khỏe mạnh. Do đó, việc sản sinh tiểu cầu suy giảm gây ra giảm thêm số lượng tiểu cầu trong máu.
Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn có thể gặp ở cả trẻ em và người lớn. Sự phát triển của bệnh có sự khác biệt giữa nam và nữ ở những độ tuổi khác nhau. Ở người trẻ, bệnh thường gặp ở nữ. Ở tuổi lớn hơn, bệnh xuất hiện ở nam giới lại phổ biến hơn. Trẻ em có thể mắc bệnh này sau một đợt mắc bệnh do một số loại virus thường gặp. Người ta cũng thấy các loại virus như thủy đậu, quai bị và sởi có mối liên quan với xuất huyết giảm tiểu cầu.Ở người lớn bệnh thường xảy ra ở thời gian bất kỳ.
Xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch được chia làm 2 loại chính là: cấp tính (ngắn ngày) và mạn tính (dài ngày). Xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn cấp tính gặp rất phổ biến ở trẻ em. Nó thường kéo dài ít hơn 6 tháng. Thể mạn tính thì kéo dài 6 tháng hoặc hơn và thường gặp ở người lớn. Tuy nhiên, người trẻ hoặc trẻ nhỏ cũng có thể mắc.
Xuất huyết giảm tiểu cầu còn được phân loại thành nguyên phát hoặc thứ phát sau bệnh lý miễn dịch, nhiễm trùng, sử dụng thuốc, có thai, mắc một số bệnh ung thư.

Dấu hiệu nhận biết
Người mắc xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn thường có nhiều vết bầm tím trên người gọi là xuất huyết dưới da, hoặc chảy máu niêm mạc bên trong miệng. Xuất huyết dưới da có thể dạng mảng hoặc dạng chấm, dạng chấm trông như những nốt phát ban.
Các triệu chứng phổ biến nhất: bầm tím, chấm xuất huyết, thường ở vùng thấp cẳng chân (dạng bít tất), chảy máu cam, chảy máu chân răng (khi can thiệp nha khoa), chảy máu đường tiết niệu, chảy máu đường tiêu hóa, rong kinh, chảy máu lâu cầm, chảy máu nhiều trong phẫu thuật. Tuy nhiên, có một số người mắc bệnh không triệu chứng.
Các biến chứng
Biến chứng nguy hiểm nhất là chảy máu, đặc biệt xuất huyết não gây tử vong, tuy nhiên hiếm xảy ra. Các phương pháp điều trị xuất huyết giảm tiểu cầu có thể gặp phải nhiều tác dụng không mong muốn của thuốc. Sử dụng corticoid kéo dài thường gây nhiều tác dụng phụ như: loãng xương, đục thủy tinh thể, giảm khối cơ, tăng nguy cơ nhiễm trùng, bệnh tiểu đường, cắt lách làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Điều quan trọng là phải theo dõi xem có bất kì triệu chứng nhiễm trùng nào không để báo ngay cho bác sĩ.
Trong phần lớn người mắc xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh không nghiêm trọng và ít đe dọa đến tính mạng. Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em thường tự khỏi sau 6 tháng hoặc ít hơn mà không cần điều trị. Xuất huyết giảm tiểu cầu mạn tính có thể kéo dài trong nhiều năm. Bệnh nhân có thể sống nhiều thập kỉ với bệnh này, thậm chí với những người bị nặng có thể quản lý tình trạng bệnh của họ một cách an toàn mà không có bất kì biến chứng gì làm giảm tuổi thọ.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Xuất huyết giảm tiểu cầu ở trẻ em
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.