Thế giới cổ đại từng công nhận và xếp dịch hạch và những gì hiện nay chúng ta gọi là giang mai vào nhóm "ôn dịch", bởi chúng đều có tốc độ lây lan và tỉ lệ tử vong và biến chứng cao. Vào cuối thế kỷ 15, Chistopher Columbus và đoàn thám hiểm của ông đã mang căn bệnh này đến châu Âu, ban đầu được gọi là Syphilis hay The French Disease, bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Tuy nhiên, các cơ quan lực lúc bấy giờ lại cho rằng phụ nữ chính là nguyên nhân làm lan truyền bệnh, đặc biệt là những người phụ nữ làm nghề mại dâm hay gái làng chơi.
Quan niệm sai lầm này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nghiên cứu tìm ra cách chữa trị bởi giới nghiên cứu gần như mặc định điều này là đúng.
Chính vì vậy, sang đến thế kỷ 20, ở Âu-Mỹ, người ta đã khuyên nhóm phụ nữ bán dâm nên giữ gìn cơ thể "sạch sẽ" còn đàn ông thì tuyệt nhiên không. Sự mặc định này còn lan truyền cả sang phòng thí nghiệm, làm cho việc nghiên cứu cũng bị sai lệch, dùng cả thuỷ ngân để chữa bệnh.
Bằng chứng, bác sĩ đã thử nghiệm thủy ngân trên gái mại dâm vì cho rằng họ là thủ phạm gây lan truyền bệnh. Những người mang thuyết "giang mai hóa" cho rằng, giang mai giống như đậu mùa. Bởi vậy, trong suốt thế kỷ 19, chính các bác sĩ đã truyền bệnh giang mai cho những phụ nữ làm nghề gái gọi, luôn có quan niệm cơ thể họ có thể tự hình thành kháng thể để chống lại căn bệnh này.
Một trong những căn chết người đến nay y học vẫn chưa tìm ra thuốc đặc trị là ung thư, và từng bị hiểu lầm hoàn toàn. Theo đó, ngay từ thời Hy Lạp cổ đại, do tôn giáo hà khắc nên việc thí nghiệm trên cơ thể người lẫn thiếu thốn trang thiết bị y tế làm cho hiểu biết của y học về cơ thể con người bị hạn chế.
Ngay cả bác sĩ Hy Lạp cổ đại lừng danh Hippocrates, cha đẻ của ngành Y, cũng cho rằng nguyên nhân gây ung thư là do "dịch xấu" trong cơ thể. Hippocrates cho rằng, tiết dịch cơ thể gồm 4 loại cơ bản là máu, đờm, mật vàng và mật đen, nếu nhiều mật đen thì nguy cơ ung thư rất cao.
Giả thuyết sai lầm này kéo dài đến tận thế kỷ 18, nó được bổ sung cả bạch huyết và sang thế kỷ 19, khi xuất hiện của kính hiển vi và các thiết bị y tế khác, sự thật mới thực sự được sáng tỏ, khoa học đã bắt đầu hiểu sâu thêm về cơ thể mình, hiểu được phần nào bản chất lẫn cơ chế phát triển của bệnh ung thư.
Giống như ung thư, bệnh động kinh hay rối loạn co giật đã tồn tại trong suốt lịch sử của nhân loại, nó có thể xảy ra với bất kỳ ai, bất cứ nơi nào, từng được lý giải bằng nhiều cách khác nhau. Những người mắc bệnh thường xuất hiện những cơn co giật thường xuyên và đa dạng. Một trong những dạng biến nhất là co giật khủng khiếp kèm ngất xỉu và thay đổi ý thức của người bệnh.
Tuy rất nguy hiểm nhưng thời xưa, người ta lại có quan niệm sai cho rằng bệnh là do quỷ ám, thậm chí trước cả khi Kinh Thánh ra đời, những người Babylon, Hy Lạp và La Mã còn có quan niệm cho rằng, động kinh là do quỷ ám, còn những người có niềm tin tôn giáo thì tìn rằn do Chúa trời trừng phạt.
Do nhận thức sai nên cách chữa thời xưa cũng quái dị. Ví dụ, người La Mã cổ đại cho rằng bệnh sẽ hết nếu uống máu của những đấu sĩ trong đấu trường bại trận và ăn thịt xác chết. Vì vậy mới xuất hiện những nghi lễ trừ tà rùng rợn do các pháp sư điều hành nhằm xua đuổi ma tà quỷ dữ.
4. Bệnh lao
Nhờ khoa học phát triển, ngày nay con người biết được nguyên nhân gây bệnh về đường hô hấp. Nhưng đầu thế kỷ 19, các nhà khoa học vẫn tin rằng bệnh lao là căn bệnh "tiêu thụ".
Điều này có nghĩa bệnh lao bùng phát là do công nghiệp hóa diễn ra quá nhanh, đặc biệt là tiến trình đô thị hóa, và nạn ô nhiễm khiến cho con người bị mắc bệnh hô hấp. Sự thật này mãi về sau mới được lý giải, theo đó nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn Tubercle bacillus.
Hiểu lầm này đã khiến một thời kỳ dài con người phải sống trong nỗi sợ, nhưng người ta lại không biết ở những nơi không khí trong lành nông thôn bệnh lao vẫn phát triển.
Hoặc có những giả thiết do các nhà khoa học Pháp đưa ra, cho rằng các loại bệnh lao như lao phổi lại do con người, nó chỉ xuất hiện ở một số vùng lãnh thổ nhất định.
Trên thực tế, chính các nhà khoa học cũng từng thừa nhận, cuộc sống đô thị dễ làm cho con người dễ bị lao phổi, nhưng nó không phải là nguyên nhân chính. Đô thị chỉ làm cho con người tiếp xúc nhiều với vi khuẩn, và vi khuẩn mới chính là tác nhân gây bệnh lao phổi.
Ngày nay cùng với sự hiểu biết về bệnh lao và sự ra đời của thuốc kháng sinh penicillin, sự cải thiện vệ sinh môi trường đô thị nên số người mắc bệnh lao giảm hẳn, thậm chí có nơi đã xóa bỏ hoàn toàn căn bệnh này trước khi nhân loại bước vào thế kỷ 21.
5. Bệnh phong
Bệnh phong (Leprosy) hay còn gọi là bệnh cùi, hủi... là căn bệnh bị hiểu nhầm tai hại nhất trong lịch sử y văn của nhân loại. Và cũng như nhiều căn bệnh đề cập ở trên, nó từng được nhiều người, kể cả trong ngành y hiểu sai, cho rằng đây là bệnh di di truyền hoặc do Chúa trời trừng phạt.
Do nhận thức sai lệch nên những người bị bệnh thường bị xa lánh, cô lập và bị đưa về các trại phong, nơi họ phải sống những ngày cuối đời trước sự ghẻ lạnh của cộng đồng, như một số trại phong nổi tiếng thế giới đã từng được báo chí nhắc đến ở đảo Hawai và đảo Molakai. Thậm chí một số vùng ở châu Âu còn lắp chuông cảnh báo mỗi khi có người mắc bệnh phong tới gần.
So với những căn bệnh khác, bệnh phong có những đặc thù riêng, ngay cả khi nguyên nhân được làm rõ, những hiểu lầm vẫn tồn tại trong tiềm thức con người, nhất là nỗi sợ bị lây bệnh. Trong nỗ lực giảm thiểu nhận thức sai lệch về bệnh phong, ngày nay căn bệnh này được gọi bằng cái tên mới, bệnh Hansen (Hansens Disease).
Qua nghiên cứu, khoa học phát hiện thấy có trên 95% dân số thế giới hiện nay có khả năng miễn dịch tự nhiên với bệnh phong, và nếu một ai đó chẳng may mắc bệnh thì khả năng lây bệnh là từ con vật có tên tatu (loài thú có vú thuộc họ Dasypodidae ở vùng Bắc và Nam Mỹ) gây ra, chứ không phải lây truyền từ người sang người. Mặc dù khả năng miễn dịch với vi khuẩn thực sự đã tăng, song tỉ lệ người mắc bệnh trên thế giới hiện vẫn ở mức cao, trên 250.000 ca mỗi năm, nặng có thể phát sinh biến dạng, gây cụt chân tay hay mù lòa.
Trà thanh nhiệt Dr Thanh là một sản phẩm đồ uống thảo mộc đóng chai sản xuất bằng công nghệ chiết lạnh vô trùng (Aseptic). Ngoài ba vị đã nêu trước đó (Kim ngân hoa, Cúc hoa, La hán quả), sản phẩm còn phối hợp thêm các thảo mộc khác: Hạ khô thảo, Cam thảo, Đản hoa, Tiên thảo...
Đối với người sở hữu làn da khô, cảm giác căng rát và sự xuất hiện của những vảy da nhỏ là nỗi ám ảnh suốt những ngày lạnh. Thay vì phụ thuộc vào các loại mặt nạ giấy đóng gói sẵn, nên sử dụng những nguyên liệu tự nhiên tự chế loại mặt nạ làm dịu làn da.
Nhiều người trong chúng ta dán mắt vào điện thoại, màn hình máy tính và các thiết bị kỹ thuật số khác cả ngày, có thể gây khó chịu và các triệu chứng như khô mắt, nhìn mờ, đau đầu. Những triệu chứng đó thường chỉ là tạm thời, nếu bạn biết chăm sóc đúng cách, đôi mắt có thể vẫn sắc nét và khỏe mạnh; Nhưng điều đó đòi hỏi bạn phải chú ý đến vị trí đặt màn hình, thời điểm nghỉ ngơi và mức độ quan tâm đến các triệu chứng mỏi mắt.
Cam thảo là một trong những thành phần xuất hiện rất phổ biến trong các loại trà thảo mộc, từ trà pha thủ công, trà túi lọc đến đồ uống thảo mộc đóng chai. Cam thảo có tên khoa học là Glycyrrhiza glabra. Tại Việt Nam, thường gặp các dạng dược liệu được gọi chung là cam thảo như cam thảo bắc, cam thảo nam và cam thảo dây, với nguồn gốc và đặc điểm dược tính khác nhau.
Ngủ đủ và ngủ chất lượng đóng vai trò then chốt trong quá trình phục hồi cơ bắp và nâng cao hiệu suất tập luyện. Thời lượng và chất lượng giấc ngủ ảnh hưởng trực tiếp đến sửa chữa mô cơ, giảm đau nhức và phòng ngừa chấn thương ở người tập luyện thường xuyên. Vậy, ngủ bao nhiêu tiếng mỗi ngày để cơ bắp phục hồi?
Hạ đường huyết (lượng đường trong máu thấp) có thể gây dấu hiệu đau đầu. Đau đầu do hạ đường huyết thường gặp như đau âm ỉ ở thái dương. Nếu bạn bị chứng đau nửa đầu, lượng đường trong máu thấp có thể kích hoạt một cơn đau nửa đầu. Bài viết này thảo luận về lý do tại sao lượng đường trong máu thấp có thể gây đau đầu và chứng đau nửa đầu, cũng như cách phòng ngừa và điều trị chúng.
Làn da sáng mịn, khỏe đẹp không chỉ phụ thuộc vào mỹ phẩm hay các xu hướng chăm sóc da bên ngoài. Nhiều nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy, chế độ ăn uống hằng ngày có ảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm, đàn hồi và tốc độ lão hóa của làn da.
Thời tiết đang vào mùa đông và trời đã bắt đầu lạnh hơn, những đợt gió mùa ùa về cũng là lúc bạn lo lắng rằng liệu em trẻ đã đủ ấm áp chưa hay mặc bao nhiêu đồ khi cho trẻ đi ngủ là đủ? Đừng lo lắng và đọc bài viết sau đây để giữ ấm cho trẻ đúng cách vào ban đêm trong mùa đông nhé!