Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thuốc chống trầm cảm và nguy cơ tự tử

Các loại thuốc được sử dụng để điều trị trầm cảm được gọi là các thuốc chống trầm cảm. Tất cả các thuốc chống trầm cảm đều có cảnh báo hộp đen (black box warning) từ Cục Quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA). FDA là cơ quan sẽ xem xét và chấp nhận việc sử dụng thuốc, và cảnh báo hộp đen là loại cảnh báo nguy hiểm nhất của một loại thuốc nào đó.

Cảnh báo hộp đen cho thuốc chống trầm cảm chỉ ra rằng, loại thuốc này có nguy cơ gây ra các suy nghĩ và hành động liên quan đến tự tử ở trẻ em, thanh thiếu niên và người trẻ trong khoảng 18-24 tuổi. Nguy cơ này cao nhất trong vòng 2 tháng đầu điều trị bằng thuốc chống trầm cảm. Đây là giai đoạn mà những ý nghĩ về việc tự tử thường xảy ra nhất.

Nếu bạn hoặc người thân có ý nghĩ tự tử khi đang dùng thuốc chống trầm cảm, thì nguyên nhân của suy nghĩ này có thể là do dùng thuốc, cũng có thể không phải do thuốc. Bản thân bệnh trầm cảm hoặc các tình trạng sức khỏe tâm thần khác cũng đã làm tăng nguy cơ có ý nghĩ tự tử. Và cho dù bạn có dùng thuốc hay không, một khi đã mắc phải những tình trạng bệnh này, thì ý nghĩ tự tử cũng đã xuất hiện sẵn. Tuy nhiên, có một điều bạn luôn phải ghi nhớ, đó là nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, việc sử dụng thuốc chống trầm cảm sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn là nguy cơ, trong khi điều trị trầm cảm hoặc lo âu. Và điều này vẫn đúng cả với trẻ nhỏ, thanh thiếu niên và người trưởng thành trẻ tuổi.

Do vậy, kể cả khi thuốc chống trầm cảm có cảnh báo hộp đen, nhưng bạn và bác sỹ vẫn nên cân nhắc về lợi ích và nguy cơ cụ thể của việc dùng thuốc trong trường hợp của bạn. Cảnh báo về nguy cơ tự tử có thể nên được cân nhắc, nhưng bạn cũng không nên tự ý dừng thuốc nếu chưa được sự cho phép của bác sỹ.

Tại sao các thuốc chống trầm cảm lại làm tăng nguy cơ tự tử?

Nguyên nhân chính xác của tình trạng này hiện vẫn chưa được biết rõ, nhưng có 2 giả thuyết được đưa ra.

  • Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, những trẻ sử dụng thuốc chống trầm cảm sớm sẽ dễ bị kích thích và có xu hướng bạo lực hơn. Những triệu chứng mới này có thể dẫn đến suy nghĩ hoặc hành vi tự tử.
  • Một giả thuyết khác cho rằng, do trẻ em và người trẻ có não bộ chưa phát triển toàn diện khi chưa đủ 24 tuổi. Do vậy, những người trên 24 tuổi dùng thuốc thì sẽ có khả năng hạn chế được các hành vi nguy cơ và có những suy nghĩ chín chắn, trưởng thành hơn. Nên, việc các loại thuốc thay đổi các chất hóa học trong não sẽ ảnh hưởng đến những người dưới 24 tuổi nhiều hơn.

Tuy nhiên, trong 2 giả thuyết này, giả thuyết nào chính xác hơn thì vẫn chưa được làm rõ.

Những nguy cơ cho các nhóm tuổi khác

Nguy cơ có ý nghĩ tự tử ở những người trên 24 tuổi khi sử dụng thuốc chống trầm cảm không tăng lên nhiều. Ngoài ra, với nhóm tuổi trên 65, theo FDA, thuốc chống trầm cảm thậm chí còn làm giảm nguy cơ tự tử ở nhóm tuổi này. Tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng, bản thân bệnh trầm cảm đã làm tăng nguy cơ tự tử rồi, cho dù bạn không dùng thuốc.

Các dấu hiệu và triệu chứng nên chú ý

Nếu bạn đang sử dụng thuốc chống trầm cảm, hãy chú ý đến bất cứ điều thay đổi bất thường nào trong hành vi, tâm trạng, cảm xúc hoặc suy nghĩ của bạn. Nếu bạn là cha mẹ hoặc người chăm sóc, hãy chú ý đến những ảnh hưởng của thuốc đến trẻ hoặc người thân, đặc biệt là trong những tháng đầu mới điều trị hoặc khi bác sỹ mới thay đổi liều thuốc. Đây là khoảng thời gian mà nguy cơ tự tử sẽ tăng lên cao nhất.

Những triệu chứng sau có thể là những dấu hiệu cảnh báo suy nghĩ tự tử hoặc có ý muốn tự tử:

  • Lo âu, lo lắng, bồn chồn không yên
  • Các vấn đề về giấc ngủ
  • Dễ bị kích động, tức giận, có hành vi bạo lực
  • Các hành vi cưỡng chế
  • Cảm thấy hưng phấn, tăng động hơn bình thường
  • Bệnh trầm cảm nặng hơn
  • Thường xuyên có cơn hoảng loạn

Hãy nói với bác sỹ ngay nếu bạn hoặc người thân có bất cứ triệu chứng nào ở trên.

Làm thế nào để giảm nguy cơ?

Bác sỹ sẽ trao đổi về nguy cơ xuất hiện ý nghĩ và hành vi tự tử với bạn trước khi bạn bắt đầu điều trị bằng thuốc. Hãy đảm bảo rằng, bạn đã hiểu rõ nguy cơ này trước khi bạn hoặc trẻ bắt đầu dùng thuốc. Nếu được, bạn có thể hỏi ý kiến bác sỹ về các cách điều trị trầm cảm khác, không dùng thuốc. Các cách khác như trị liệu tâm lý, luyện tập thể thao sẽ không có nguy cơ tự tử.

Nếu bạn dùng thuốc chống trầm cảm, bạn có thể làm rất nhiều việc để làm giảm nguy cơ tự tử của mình. Nhưng điều quan trọng nhất là sử dụng thuốc cẩn thận và thường xuyên trao đổi với bác sỹ.

Cách tốt nhất để phòng chống tự tử là đặc biệt chú ý đến các triệu chứng.ếu bạn có bất cứ suy nghĩ nào về việc làm hại bản thân mình hoặc có bất cứ thay đổi bất ngờ nào về hành vi hoặc cảm xúc, hãy nói với bác sỹ.

Bạn cũng nên đảm bảo rằng bạn đi khám lại đúng hẹn. Bác sỹ sẽ có thể theo dõi bạn chặt chẽ và phát hiện ra những dấu hiệu bất thường ở bạn, nếu có.

Một số loại tương tác thuốc cũng có thể sẽ làm tăng nguy cơ tự tử của bạn. Để làm giảm nguy cơ tự tử, hãy nói với bác sỹ về tất cả các loại thuốc bạn đang dùng trước khi bắt đầu dùng thuốc chống trầm cảm. Bằng cách này, bác sỹ có thể sẽ biết được loại tương tác thuốc nào nên chú ý.

Bình luận
Tin mới
  • 28/06/2026

    Liệu các biện pháp tự nhiên có thể cải thiện sức khỏe túi mật?

    Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.

  • 27/06/2026

    Cách bảo vệ hệ thần kinh cho người hâm mộ hay thức khuya xem bóng đá

    Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.

  • 27/06/2026

    Tổ chức Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài về tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân

    Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”

  • 27/06/2026

    Những dấu hiệu sớm của bệnh tiểu đường bạn cần biết

    Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.

  • 26/06/2026

    Phòng tránh sốc nhiệt mùa hè: Hướng dẫn toàn diện bảo vệ sức khỏe

    Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.

  • 26/06/2026

    Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề tiêu hóa khác không?

    Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.

  • 25/06/2026

    Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường hô hấp ở nơi công cộng

    Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.

  • 24/06/2026

    Ung thư phổi và những mối nguy hại đến hệ hô hấp của người cao tuổi

    Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.

Xem thêm