Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Sơ cứu nạn nhân có vết thương chảy máu

Đa số các chấn thương nhẹ gây chảy máu như vết cắt, vết trầy thường không nghiêm trọng. Trường hợp động mạch hoặc tĩnh mạch lớn bị tổn thương, ví dụ tĩnh mạch cảnh ở cổ, thì nạn nhân có thể bị chảy máu trầm trọng, tính mạng bị đe dọa. Sơ cứu đúng cách và kịp thời có thể góp phần cứu sống người bệnh.

Sơ cứu nạn nhân có vết thương chảy máu

Mục đích chính của việc sơ cứu và chăm sóc cấp cứu một vết thương:

– Cầm máu hoặc khống chế sự chảy máu
– Phòng hoặc điều trị sốc
– Duy trì các chức năng sinh tồn (giúp nạn nhân thở và lưu thông tuần hoàn)
– Tránh các biến chứng (đặc biệt là giảm nguy cơ nhiễm khuẩn).

A. Chảy máu ngoài

A.1. Nguyên tắc chung

1. Ép trực tiếp lên vết thương đang chảy máu

2

Ép trực tiếp lên vết thương đang chảy máu.

– Nhanh chóng ép trực tiếp lên vết thương. Nếu có điều kiện thì đặt lên vết thương một miếng gạc hoặc miếng vải sạch trước khi ép trực tiếp.

– Nếu vết thương chảy máu nhiều, ĐỪNG lãng phí thời gian tìm kiếm băng gạc, hãy dùng chính bàn tay của bệnh nhân hay bàn tay của bạn để ép vết thương lại (nếu nạn nhân không thể tự làm việc này).

2. Nâng cao vùng bị tổn thương

3

Nâng cao vùng bị tổn thương.

– Ðặt nạn nhân nằm ở tư thế thoải mái thuận tiện, nâng cao vùng bị tổn thương để giảm áp lực máu tới vùng này.
– Dùng băng cuộn hoặc dây vải băng ép miếng gạc hoặc miếng vải vào vết thương. Không băng quá chặt như hình thức ga rô.

3. Vết thương đâm xuyên còn dị vật

4

Không rút dị vật nhưng tạo vùng đệm quanh dị vật này.

– Nếu các vết thương chảy máu có dị vật như mảnh gỗ, kim loại hoặc bất kỳ vật gì đâm vào và vẫn cắm ở vết thương thì KHÔNG được rút dị vật ra.
– Bịt kín vết thương bằng cách ép mép vết thương sát với dị vật.
– Dùng miếng vải vuông hoặc một khăn tam giác quấn lại thành vòng đệm xung quanh dị vật, sau đó dùng băng ép lại như với vết thương không có dị vật, chú ý không gây áp lực trực tiếp lên dị vật.

4. Để bệnh nhân nghỉ ngơi tuyệt đối

– Kể cả khi bị thương ở tay hay nửa trên của người, bệnh nhân cũng cần được nghỉ ngơi trong tư thế thuận tiện ít nhất 10 phút để giúp cầm máu.
– Giữ yên tĩnh cho nạn nhân, động viên an ủi nếu nạn nhân tỉnh táo.

5. Chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế nếu thấy cần thiết

– Nếu vết thương nhỏ và nạn nhân có thể di chuyển bằng ô tô xe máy thông thường thì chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở y tế gần đó.
– Nếu vết thương nặng hay tình trạng nạn nhân xấu thì gọi cấu cứu 115 càng sớm càng tốt.
– Trong khi chờ đợi hoặc trên đường vận chuyển phải theo dõi sát tình trạng hô hấp, tuần hoàn của nạn nhân. Giữ ấm cho nạn nhân.
– Cố gắng tránh tiếp xúc trực tiếp với máu hoặc các loại dịch khác từ cơ thể nạn nhân. Sử dụng găng tay dùng một lần nếu có thể. Nếu không có găng thì dùng túi nilon thông thường để thay thế.

6. Nếu máu thấm qua gạc và băng

5

Máu thấm qua gạc và băng.

– Nếu máu thấm qua gạc và băng thì dùng lớp băng thứ hai quấn chặt lên lớp băng cũ.

– Với các vết thương chảy máu quá mạnh không thể kiểm soát, cần nhanh chóng thay lớp gạc và băng thứ nhất đã sũng máu bằng lớp gạc và băng mới. Máu không cầm được có thể là do tấm gạc thứ nhất dùng để chèn vết thương đã bị trượt khỏi vị trí ban đầu.

A.2. Những tổn thương cần chăm sóc đặc biệt

1. Chấn thương đứt lìa chi thể

Các thương tổn đứt lìa thường gặp là ngón tay, ngón chân, một phần chi trên hoặc chi dưới. Các phần chi thể đứt lìa có thể được phẫu thuật nối lại thành công nếu được sơ cứu, bảo quản và chăm sóc đúng cách.

Xử trí:

– Gọi cấp cứu 115.
– Dùng gạc ép trực tiếp vào vết thương để cầm máu, kết hợp nâng cao vùng tổn thương.

6

Ép trực tiếp vào vết thương để cầm máu.

– Bảo quản và chăm sóc chi thể đứt lìa:

+ Loại bỏ các vết bẩn, dị vật có thể gây ô nhiễm vết thương như đất, sỏi đá. Nhẹ nhàng rửa sạch phần chi thể bị đứt lìa nếu vết cắt bị bẩn và có nguy cơ ô nhiễm.
+ Gói phần chi thể bị cắt đứt trong một chiếc khăn ướt sạch, đặt vào trong túi ni lông hoặc túi nhựa được đóng kín. Để chừa một ít không khí bên trong túi làm lớp đệm bảo vệ bộ phận đứt lìa.

7

Đặt phần chi thể bị cắt đứt vào trong túi ni lông.

+ Đặt túi ni lông vào hộp hoặc xô nước lạnh có kèm ít cục đá lạnh. Chú ý không đặt trực tiếp phần chi thể trong nước đá mà không sử dụng túi nhựa bọc bên ngoài. Cũng không đặt trực tiếp chi thể lên đá lạnh, đá khô vì sẽ gây tê cóng và tổn thương các mô của chi thể.
+Trường hợp không có sẵn nước lạnh, hãy để phần chi thể đứt rời tránh xa các nguồn nhiệt. Chi thể bị căt rời nếu được bảo quản và làm mát đúng cách có thể sử dụng cho phẫu thuật trong vòng 18 giờ, trường hợp không được bảo quản thì chỉ có thể sử dụng trong vòng 4 – 6 giờ.
+ Bàn giao phần chi thể đứt rời cho nhân viên y tế hoặc vận chuyển chi thể về cơ sở điều trị chuyên khoa gần nhất.

2. Chấn thương đụng dập

Chấn thương đụng dập xuất hiện khi những mảng cơ và mô mềm bị chèn ép bởi vật nặng. Chấn thương loại này nguy hiểm nhất nếu xuất hiện ở đầu, cổ, ngực, bụng và đùi.

Xử trí:

– Gọi cấp cứu 115.
– Gỡ bỏ lực chèn ép nếu được vì lực chèn quá lớn có thể gây tổn thương mô vĩnh viễn.
– Nếu tình trạng chèn ép đã xuất hiện một thời gian thì cần chuẩn bị sẵn sàng sơ cứu nạn nhân vì việc loại bỏ lực ép có thể gây trụy tuần hoàn đột ngột hoặc khiến nạn nhân xấu đi.
– Đánh giá và điều trị các vết thương của nạn nhân theo trình tự quan trọng.
– Cầm máu bằng cách ép chặt gạc sạch lên vùng tổn thương.
– Đặt nạn nhân nằm nghỉ ở tư thế thoải mái nhất, dùng gối mềm nâng đỡ phần cơ thể bị thương.
– Bất động vùng bị thương nằm ở chi.
– Trong khi chờ đợi, theo dõi sát tình trạng hô hấp và tuần hoàn của nạn nhân.

3. Chấn thương trầy xước

8

– Vết thương gây trầy da dễ bị nhiễm bẩn bởi bụi và đất cát, vì vậy đầu tiên cần làm sạch vùng này. Trước khi tiến hành chăm sóc, cần rửa sạch tay bằng xà phòng để tránh lây nhiễm thêm cho vết thương.
– Nhẹ nhàng rửa vết thương bằng nước sạch hoặc nước muối. Dùng dụng cụ y tế hoặc nhíp sạch gắp các mảnh bẩn ra.
– Dùng gạc hay vải sạch thấm khô vết thương
– Sát trùng vết thương và xung quanh vết thương bằng một số dung dịch i-ốt hữu cơ có bán ở nhà thuốc để loại bỏ vi khuẩn.
– Dùng băng y tế băng bó vết thương để cầm máu và tránh nhiễm thêm vi khuẩn mới.
– Thay băng và lau rửa vết thương bằng dung dịch i-ốt hữu cơ mỗi ngày một lần cho đến khi vết thương liền sẹo.

4. Chấn thương đâm thủng

9

– Làm sạch vết thương bằng nước muối và để nước thấm vào vết thủng vì nha bào uốn ván có thể kẹt sâu trong đó.
– Để vết thương khô hoàn toàn rồi mới che kín.
– Nếu phải dán băng bảo vệ thì dùng loại băng dính có lỗ và thay băng hàng ngày để giữ cho vết thương được khô và sạch.
– Xin ý kiến bác sĩ về việc tiêm phòng uốn ván.

B. Chảy máu trong

Chảy máu trong xuất hiện khi các mạch máu bên trong cơ thể bị vỡ và máu thoát ra khỏi hệ tuần hoàn. Hiện tượng này có thể xảy ra khi nạn nhân bị đập mạnh vào đầu, ngực hay bụng do ngã hoặc bị xe đâm. Người không có chuyên môn thường khó nhận biết các dấu hiệu của chảy máu trong.

Cần nghi ngờ chảy máu trong khi xuất hiện máu trong dịch nôn, đờm, nước tiểu hoặc phân.
Nạn nhân có thể thở nhanh, thở hổn hển, khát nước ngày càng tăng, ho ra máu đỏ tươi lẫn bọt, nôn ra máu đen như màu bã cà phê, nước tiểu đỏ tươi hay có màu gỉ sắt (nâu đỏ nhạt), phân đen như nhựa đường. Bệnh nhân nhợt nhạt, thấy lạnh, da ẩm ướt.

Xử trí

– Ðặt nạn nhân nằm nghỉ ở tư thế thoải mái dễ chịu nhất.
– Đắp chăn giữ ấm cho nạn nhân.
– Trải tấm lót cho nạn nhân nằm lên trên nếu mặt đường gồ ghề hoặc nóng quá hay lạnh quá.
– Gọi cấp cứu 115.

Trong khi chờ đợi:
– Xử lý các vết thương khác.
– Nới rộng quần áo, nhất là ở vùng cổ và thắt lưng.
– Trấn an người bệnh.
– KHÔNG cho bệnh nhân ăn, uống hoặc hút thuốc lá.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Xử trí ban đầu khi trẻ em bị động vật cắn

BS Trần Thu Thủy - Theo Bệnh viện Nhi TW
Bình luận
Tin mới
  • 25/06/2026

    Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường hô hấp ở nơi công cộng

    Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.

  • 24/06/2026

    Ung thư phổi và những mối nguy hại đến hệ hô hấp của người cao tuổi

    Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.

  • 23/06/2026

    Bênh gút- Mối nguy hiểm không báo trước

    Khám phá ngay các biện pháp kiểm soát axit uric hiệu quả để xoa dịu cơn đau và ngăn ngừa bệnh tái phát, giúp bạn lấy lại nhịp sống năng động thường ngày

  • 22/06/2026

    Dị ứng trong mùa hè

    Mùa hè mang đến thời tiết ấm áp và những hoạt động ngoài trời thú vị. Tuy nhiên, đối với nhiều người, đây cũng là thời điểm khởi phát các triệu chứng dị ứng vô cùng khó chịu. Bài viết này cung cấp những kiến thức khoa học cần thiết để nhận biết nguyên nhân, triệu chứng và các biện pháp kiểm soát tình trạng dị ứng mùa hè một cách hiệu quả và an toàn.

  • 21/06/2026

    8 tác dụng phụ nguy hiểm của các loại thực phẩm chức năng phổ biến

    Hơn một nửa số người trưởng thành ở Hoa Kỳ sử dụng thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, thực phẩm chức năng không được quản lý chặt chẽ như thuốc, vì vậy điều cần thiết là phải nhận thức được các tác dụng phụ nguy hiểm có thể xảy ra để đảm bảo an toàn và sức khỏe.

  • 20/06/2026

    4 loại đồ uống ấm giúp bù nước hiệu quả như nước lọc

    Nước lọc nên là nguồn cung cấp nước chính cho cơ thể, nhưng các loại đồ uống nóng như trà và thậm chí cả cà phê cũng có thể góp phần vào mục tiêu uống đủ nước hàng ngày của bạn.

  • 19/06/2026

    Điều bất ngờ khi ăn 1 quả trứng gà mỗi tối

    Bỏ qua nỗi lo về lượng cholesterol hay hệ tiêu hóa phải làm việc quá tải, các nghiên cứu mới cho thấy ăn trứng luộc vào buổi tối chính là cách để có giấc ngủ ngon, đốt mỡ và phục hồi cơ bắp.

  • 19/06/2026

    Bệnh thiếu axit propionic (PA)

    Bệnh thiếu axit propionic (PA) là một rối loạn di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm ở trẻ nhỏ nếu không được phát hiện và điều trị bệnh. Cùng tìm hiểu qua bài viết sau!

Xem thêm