Kết quả một nghiên cứu được hỗ trợ bởi Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ được công bố mới đây cho thấy: Bà bầu được chẩn đoán tăng huyết áp và điều trị bằng thuốc hạ huyết áp trước hoặc trong 20 tuần đầu của thai kỳ sẽ có ít kết quả bất lợi khi mang thai hơn so với người không được điều trị.
Nghiên cứu với sự tham gia của hơn 2.400 người trưởng thành mang thai, phát hiện ra rằng những người được dùng thuốc để giảm huyết áp xuống dưới 140/90 mm Hg ít có khả năng sinh non hoặc gặp một trong một số biến chứng thai kỳ nghiêm trọng, chẳng hạn như tiền sản giật, tình trạng được đánh dấu bằng huyết áp tăng cao đột ngột và các dấu hiệu sớm của rối loạn chức năng cơ quan. Thuốc điều trị tăng huyết áp không ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi.

Việc điều trị sớm tăng huyết áp ở phụ nữ mang thai sẽ giảm thiểu nguy cơ biến chứng khi sinh nở.
(Ảnh minh họa)
Nghiên cứu về tăng huyết áp mạn tính và mang thai (viết tắt là CHAP) hiện là nghiên cứu lớn nhất liên kết các thử nghiệm về chứng tăng huyết áp trong thai kỳ, được công bố đồng thời trên Tạp chí Y học New England và được trình bày vào ngày 2/4/2022 tại Triển lãm và Phiên họp Khoa học thường niên lần thứ 71 của Trường Cao đẳng Tim mạch Hoa Kỳ.
Giáo sư Alan TN Tita - chuyên ngành Sản phụ khoa tại Đại học Alabama thuộc Trường Y Birmingham Marnix E. Heersink - tác giả chính của nghiên cứu cho biết: "Việc điều trị sớm tăng huyết áp mạn tính trong thai kỳ thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc hỗ trợ những người có nguy cơ cao bị kết quả bất lợi khi mang thai".
TS. Diane Reid, Phụ trách chương trình nghiên cứu tại Viện Tim, Phổi và Máu Hoa Kỳ (NHLBI), cho biết: "Điều trị bằng thuốc hạ huyết áp sớm có thể có ý nghĩa đối với hàng nghìn người trưởng thành ở Mỹ có nguy cơ bị tiền sản giật hoặc sinh non. Tăng huyết áp mạn tính trong thai kỳ xảy ra ở hơn 2% số phụ nữ mang thai và có thể làm tăng gấp 3 lần nguy cơ bị các biến chứng nặng ở cả mẹ và trẻ sơ sinh".
Nghiên cứu CHAP đã thu nhận hơn 2.400 phụ nữ mang thai bị tăng huyết áp tại 61 trung tâm y tế Hoa Kỳ từ năm 2015-2021. Những người tham gia thử nghiệm trước 23 tuần của thai kỳ, được theo dõi trong quá trình sinh nở và trong 6 tuần sau khi sinh.
Những người tham gia được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Những người trong nhóm can thiệp gồm 1.208 người tham gia, được dùng thuốc hạ huyết áp để giữ huyết áp trung bình dưới 140/90 mmHg. Những người trong nhóm đối chứng, 1.200 người tham gia, không nhận được thuốc để giảm huyết áp của họ trừ khi mức huyết áp tăng trên 160/105 mmHg, một ngưỡng nguy hiểm của tăng huyết áp.
Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, trong số những người tham gia được điều trị hạ huyết áp, 70% không có biến chứng thai kỳ lớn, trong khi 30% gặp một trong các biến chứng sản khoa như: Tiền sản giật với các triệu chứng nghiêm trọng, thường xuất hiện sau 20 tuần của thai kỳ; nhau bong non; sinh non dưới 35 tuần; hoặc thai chết lưu hoặc tử vong sơ sinh. Trong khi đó, 37% người tham gia nhóm đối chứng đã trải qua một sự kiện tiêu cực tương tự.
Ngoài ra, cân nặng lúc sinh của trẻ dường như không bị ảnh hưởng bởi các phương pháp điều trị hạ huyết áp. Hầu hết trẻ sinh ra đều có cân nặng bình thường.
TS. Reid giải thích, nghiên cứu cũng sẽ giúp cung cấp thông tin về các quyết định điều trị tăng huyết áp. Trước đây, một số ý kiến cho rằng chỉ nên sử dụng thuốc hạ huyết áp đối với thai phụ khi tăng huyết áp ở mức độ nghiêm trọng. Tuy nhiên, với kết quả nghiên cứu này, các thầy thuốc có thể tìm thấy bằng chứng về lợi ích của các loại thuốc hạ huyết áp này, cũng như ảnh hưởng của chúng đối với sự tăng trưởng và phát triển của thai nhi để từ đó có quyết định điều trị sớm cho bà mẹ mang thai. Việc sử dụng loại thuốc như thế nào và liều lượng ra sao cần được bác sĩ cân nhắc thận trọng và theo dõi tình trạng sức khỏe của bà mẹ trong suốt thai kỳ.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Tại sao phụ nữ nên quan tâm tới tăng huyết áp thai kỳ?
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.
Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.
Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.