
Cấp cứu viêm não Nhật Bản ở trẻ em.
(Ảnh: Internet)
Bệnh viêm não Nhật Bản ở trẻ em là bệnh truyền nhiễm, một tình trạng nhiễm khuẩn cấp tính hệ thần kinh trung ương chủ yếu do virus gây ra thường gặp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chưa có điều trị đặc hiệu. Hằng năm có khoảng 67.900 trường hợp viêm não Nhật Bản. Tỉ lệ tử vong 25 - 30%, khoảng 50% người bệnh sống có di chứng nặng nề.
Viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm virus cấp tính có tổn thương hệ thần kinh trung ương do virus viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh này xuất hiện quanh năm nhưng đặc biệt gia tăng nhanh trong mùa nắng nóng.
Vật trung gian truyền bệnh là muỗi. Ở nước ta, loài muỗi truyền bệnh này xuất hiện đa số ở miền Bắc, tăng nhiều vào những tháng thuộc mùa nóng. Muỗi đốt hút máu động vật nhiễm virus viêm não Nhật Bản là những động vật có vú nhỏ và một số loại chim, ngựa... rồi đốt sang người, lây bệnh cho người.
Bệnh gây viêm màng não, viêm não để lại di chứng, hôn mê, thiểu năng trí tuệ, liệt thần kinh sọ não... tỷ lệ tử vong khá cao. Ngoài ra còn dẫn đến các biến chứng như: viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, suy kiệt, loét, suy hô hấp… Sau khi chữa khỏi có thể để lại các di chứng rất nặng nề như: rối loạn tâm thần, liệt, rối loạn ngôn ngữ, co giật, động kinh, nằm liệt giường...
Dấu hiệu phát hiện bệnh
· Trẻ bị viêm não điển hình thường gồm các dấu hiệu như sau: sốt, choáng váng, đau họng, đau bụng, sổ mũi, hắt hơi, ho. Sau đó bệnh nhi thấy đau đầu, có dấu hiệu màng não, sợ ánh sáng và nôn.
· Nếu tổn thương não sâu hơn bệnh nhi có các biểu hiện: ngủ lịm, hôn mê, thiểu năng trí tuệ (chẳng hạn bạn đố trẻ làm toán thì chúng sẽ thực hiện sai 7 phép trừ liên tục). Trường hợp bệnh nặng hơn, trẻ bị rối loạn định hướng và hôn mê.
· Một số triệu chứng thường gặp khác là rung giật, mất phản xạ ở bụng, liệt dây thần kinh sọ não, liệt nửa người, khó nuốt...
· Một số bệnh nhi có sốt đột ngột, co giật ngoại ý và các triệu chứng thần kinh trung ương. Thường gặp dấu hiệu cổ cứng, kích thích màng não, run, co giật, liệt dây thần kinh sọ, liệt chân tay, tăng phản xạ gân xương ở sâu, mất phản xạ nông và có phản xạ bệnh lý.
· Viêm não cấp tính thường kéo dài từ 1- 3 tuần, song sự hồi phục là rất chậm, phải mất từ vài tuần đến vài tháng bệnh nhi mới hồi phục được chức năng tối đa.
· Bệnh nhi thường khó tập trung, mệt, run và thay đổi tính cách trong giai đoạn phục hồi.
Sau thời gian ủ bệnh kéo dài từ 5-15 ngày, viêm não Nhật Bản sẽ phát triển theo 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Đây là giai đoạn khởi phát, kéo dài từ 1-6 ngày. Bé có sẽ có một số dấu hiệu như sốt đột ngột, thường kèm theo ớn lạnh, cơ thể mệt mỏi, buồn nôn, nôn hoặc đau đầu.
Giai đoạn 2: Đây là giai đoạn toàn phát. Ở giai đoạn này bé tiếp tục bị sốt cao (38 - 400C). Lúc này, bé cũng có một số dấu hiệu của viêm màng não như đau đầu; cứng gáy; táo bón; nôn và buồn nôn. Ngoài ra, bé còn có một số biểu hiện của rối loạn ý thức như li bì; hôn mê hoặc bé cũng có thể có những biểu hiện của tổn thương thần kinh trung ương như co giật (ngón tay, lưỡi, mi mắt hoặc toàn thân bị run giật) kèm theo rối loạn thần kinh thực vật.
Giai đoạn 3: Đây là giai đoạn hồi phục. Nếu qua được giai đoạn này, bé có thể hồi phục hoàn toàn. Tuy nhiên trong một số trường hợp nghiêm trọng, viêm não Nhật Bản có thể để lại một số di chứng nghiêm trọng như liệt cứng ở chi trên hoặc chi dưới, liệt mặt hoặc rối loạn tinh thần, mất ổn định về tình cảm, thay đổi tính tình, chậm phát triển trí tuệ.
Cách phòng tránh bênh viêm não Nhật Bản ở trẻ nhỏ
Bệnh viêm não Nhật Bản hiện chưa có thuốc đặc trị vì thế việc phòng ngừa là quan trọng nhất.
Bệnh lây truyền qua trung gian muỗi vì thế việc quan trọng nhất cần phải diệt trung gian truyền bệnh. Phòng chống muỗi đốt: ngủ màn, mặc quần áo dài tay, quần dài hạn chế muỗi đốt. Dùng các biện pháp trừ khử muỗi như: vệ sinh môi trường sinh sống, dùng thuốc trừ muỗi,...Cho bé mặc áo dài tay và quần dài khi ở ngoài trời. Sử dụng lưới chống muỗi cho nôi của trẻ sơ sinh.Giữ bé tránh xa những nơi có nhiều côn trùng hoặc những vũng nước đọng.
Cách tốt nhất để phòng ngừa bệnh viêm não Nhật Bản là đưa bé đi tiêm phòng viêm não Nhật Bản. Hiện nay đã có vaccine ngừa viêm não Nhật Bản chỉ định cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên. Trẻ chỉ cần tiêm 1 mũi cơ bản và sau đó sẽ được tiêm nhắc mũi thứ 2 sau mũi tiêm thứ nhất (mũi cơ bản) từ 12 đến 24 tháng. Tiêm ngừa là một biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhất và an toàn cho trẻ.
Tham khảo thông tin tại bài viết: Trẻ dễ sống thực vật vì viêm não Nhật Bản.
Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.
Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.
Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?
Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.
Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.
Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.
Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.
Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.