Trong đợt dịch COVID-19 lần thứ tư này tại nước ta, số ca nhiễm đã tăng mạnh. Công thức chống dịch hiện nay của Bộ Y tế là Vaccine + 5K hoàn toàn đúng đắn. Vaccine đang là cách hiệu quả nhất giúp loài người vượt qua đại dịch.
Chúng ta cũng đang tiến hành một chiến dịch tiêm chủng lớn nhất từ trước đến nay trên toàn bộ đất nước. Khi thực hiện điều này, chúng ta sẽ tiêm cho rất nhiều bệnh nhân có bệnh lý nền bao gồm cả những bệnh nhân tim mạch.
Những ngày này, tôi cũng nhận được hàng chục cuộc điện thoại của các bệnh nhân hỏi mắc bệnh tim mạch có nên tiêm vaccine COVID-19 không.
Có rất nhiều bệnh lý nền không có chỉ định tiêm vaccine COVID-19, với các bệnh nhân tim mạch thì ra sao? Tôi xin phép được trả lời các câu hỏi thường gặp của bệnh nhân tim mạch khi dự định đi tiêm vaccine COVID- 19.
Mắc bệnh tim mạch nên tiêm sớm vaccine COVID-19
Người có bệnh lý tim mạch nên được tiêm sớm vaccine phòng COVID- 19. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy những bệnh nhân tim mạch tăng nguy cơ cao hơn các biến chứng của COVID-19 đặc biệt những bệnh nhân này lượng virus vào phổi và tim nhiều hơn so với bệnh nhân không có bệnh tim mạch.
Những bệnh nhân có bệnh tim mạch thường bị nặng hơn và khả năng tử vong cao hơn do virus SARS-CoV-2 tác động mạnh lên tim qua nhiều cơ chế, trong đó nặng nhất là viêm nhiễm tác động lên tim. Cách duy nhất để ngăn ngừa điều này là tiêm vaccine phòng COVID- 19.
Vaccine không phải là ngăn ngừa bệnh nhân tim mạch không mắc COVID- 19, nhưng nó làm giảm đi các biến chứng nặng cho bệnh nhân tim mạch, làm cho bệnh nhân tim mạch ít bị tử vong hơn và nhập viện cũng giảm hơn hẳn so với không tiêm vaccine.
Những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch như những bệnh nhân rung nhĩ, đau ngực, bệnh cơ tim giãn, bệnh tim bẩm sinh, đái tháo đường, nhồi máu cơ tim, suy tim, huyết khối mạch phổi, bệnh mạch ngoại vi, bệnh lý van tim, tai biến mạch não đều nên được tiêm dự phòng vaccine COVID- 19.
Với những bệnh nhân không có bệnh tim mạch, tỷ lệ lợi ích và nguy cơ khi tiêm vaccine dao động từ 2.200 trên 1 lên đến 220.000 trên 1 tùy theo nhóm tuổi. Với những bệnh nhân tim mạch tỷ lệ lợi ích và nguy cơ còn cao hơn nhiều.
Như vậy, bệnh nhân tim mạch nên là những người trong nhóm ưu tiên được tiêm vaccine COVID- 19.

Người có bệnh tim mạch nên được tiêm vaccine COVID - 19.
(Ảnh minh hoạ)
Bệnh nhân tim mạch có dễ gặp tác dụng phụ của vaccine COVID-19?
Bệnh nhân tim mạch không phải là những người có nguy cơ cao dễ bị tác dụng phụ của vaccine COVID- 19. Hiện nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy bệnh tim mạch là chống chỉ định với tiêm vaccine COVID-19.
Vì vậy với tất cả bệnh nhân có bệnh tim mạch chỉ nên lưu ý với các trung tâm tiêm chủng là mình có bị dị ứng nặng hay không, với những trường hợp dễ bị dị ứng thì không nên tiêm vaccine.
Những bệnh nhân có những phản ứng không liên quan đến vaccine như dị ứng hải sản, thời tiết hoặc thuốc uống vẫn có thể tiêm được vaccine nhưng nên được theo dõi ở bệnh viện 30 phút sau khi tiêm. Khi bạn đang sốt hoặc mệt mỏi nhiều thì không nên tiêm vaccine ở thời điểm này.

TS Nguyễn Như Hùng đang điều trị cho một bệnh nhân can thiệp tim mạch tại BV Tim Hà Nội.
Liều thứ 2 của vaccine, những bệnh nhân có bệnh tim mạch nặng có thể sẽ có cảm giác khó thở khi gắng sức và có thể thấy sốt nhẹ như cúm. Tuy nhiên, những tác dụng phụ này thường chỉ kéo dài 1 - 2 ngày và đáp ứng tốt khi dùng paracetamol và uống nhiều nước.
Tại Mỹ và Châu âu, các bệnh nhân tim mạch vẫn có thể tiêm vaccine COVID- 19 tại các trung tâm tiêm chủng cộng đồng mà không phải đến bệnh viện.
Tác dụng phụ khi tiêm vaccine COVID-19 trên bệnh nhân tim mạch là gì?
Các tác dụng phụ khi tiêm vaccine COVID-19 ở bệnh nhân tim mạch giống như người bình thường. Các báo cáo tại Mỹ cho thấy tác dụng phụ của vaccine bao gồm mệt mỏi tạm thời, đau đầu, đau cơ, sốt, nôn, cảm giác ớn lạnh, những điều này giống hệt như các người bình thường không có bệnh lý tim mạch.
Khi tiêm vaccine COVID- 19, bệnh nhân tim mạch cũng có thể có phản ứng sốc phản vệ khi tiêm nhưng tỷ lệ của sốc này rất hiếm. Nó thường xuất hiện nhanh trong vòng 15 phút sau khi tiêm. Nguy cơ sốc phản vệ là rất thấp, chỉ khoảng 1 trên 2 triệu người được tiêm vaccine.
Trong khi đó lợi ích của tiêm vaccine lớn hơn hẳn nguy cơ phản ứng nghiêm trọng của vaccine nên chúng ta không nên lo lắng về những tác dụng phụ của vaccine. Với bệnh nhân tim mạch lợi ích sau khi tiêm vaccine còn lớn hơn so với người bình thường.
Có tương tác giữa vaccine COVID-19 với các thuốc tim mạch đang dùng?
Không có bất cứ báo cáo nào giữa vaccine và các thuốc tim mạch. Chúng ta không nên dừng bất cứ các thuốc tim mạch nào trước và sau khi tiêm vaccine COVID-19.
Nhiều bệnh nhân tim mạch dùng các thuốc chống đông như warfarin (còn gọi là các thuốc kháng vitamin K), các thuốc chống đông đường uống trực tiếp (NOAC) như dabigatran, rivaroxaban hoặc các thuốc chống ngưng kết tiểu cầu khi có bệnh lý mạch vành như aspirin, clopidogrel, ticargrelor, prasugrel đều có nguy cơ chảy máu khi tiêm thuốc.
Tiêm vaccine cho COVID- 19 thường tiêm ở dưới cơ. Tuy nhiên, tiêm vaccine thường dùng một kim rất nhỏ để tiêm thuốc nên nguy cơ chảy máu là rất thấp. Một số bệnh nhân có thể có máu tụ ở chỗ tiêm khi dùng các thuốc chống đông.
Máu tụ này thường nhỏ và không quá lo lắng nên chúng ta có thể không cần ngừng các thuốc chống đông. Với thuốc chống đông loại warfarin, nếu INR không quá cao chúng ta vẫn có thể tiêm an toàn.
Vaccine nào thích hợp cho bệnh nhân tim mạch?
Đa phần các bệnh nhân tim mạch là lớn tuổi. Các dữ liệu lâm sàng cho thấy tất cả các vaccine đều có lợi khi tiêm cho người lớn tuổi.
Dù khả năng bảo vệ với virus là khác nhau tùy thuộc vào loại vaccine nhưng với những người đã tiêm vaccine thì khi mắc COVID- 19 đều nhẹ hơn hẳn. Do vậy chúng ta không nên quá quan tâm đến loại vaccine mà chúng ta tiêm.
Trẻ dưới 18 mắc bệnh tim mạch có nên tiêm vaccine COVID-19?
Chúng ta hiện nay vẫn còn rất ít các dự liệu về độ an toàn của tiêm vaccine cho trẻ dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, các dữ liệu lâm sàng về COVID- 19 cho thấy trẻ dưới 18 tuổi rất ít có nguy cơ bệnh trở nặng hoặc tử vong là rất nhỏ ở nhóm bệnh này. Vì vậy, hầu hết trẻ em đến nay vẫn chưa được cân nhắc nên tiêm vaccine.
Thậm chí một số dữ liệu lâm sàng về tiêm vaccine của hãng Astra Zeneca cho thấy lợi ích thấp hơn hẳn nguy cơ ở người trẻ nên loại vaccine này đã không được chỉ định tiêm cho người trẻ ở một số nước.
Nhưng, với những đứa trẻ bị bệnh tim nặng, các nguy cơ có thể nặng hơn khi mắc COVID-19 thì chúng ta nên khuyến khích trẻ duy trì các thói quen an toàn như tuân theo khẩu hiệu 5 K để làm giảm nguy cơ mắc COVID-19.

(Ảnh minh họa)
Vaccine COVID-19 bảo vệ chúng ta trong bao lâu?
Chúng ta chưa có câu trả lời là tiêm vaccine sẽ bảo vệ cho chúng ta bao lâu. Tuy nhiên, virus gây bệnh COVID-19 là loại biến thể và thường chậm hơn là cúm. Trong khi đó chúng ta thường tiêm phòng cúm hàng năm nên ta có thể hy vọng vaccine này bảo vệ chúng ta hơn một năm.
Tuy nhiên, chúng ta cũng đã thấy rất nhiều các biến thể của virus này nên không có gì ngạc nhiên khi một vài năm nữa chúng ta sẽ cần thay đổi các loại vaccine đang hiện hành để có thể có hiệu quả hơn chống lại các biến chủng mới.
Tóm lại khi bạn có bệnh tim hãy tiêm vaccine ngay khi có thể. Với những bệnh nhân tim mạch, những dữ liệu lâm sàng đều cho thấy rằng đó là nhóm bệnh nên được ưu tiên tiêm vaccine COVID-19.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Vaccine COVID-19 với người mắc bệnh mạn tính.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.