Đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp có tác động đáng kể đến việc cung cấp dịch vụ chăm sóc thích hợp cho bệnh nhân vảy nến.
Chương trình tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho những người có nguy cơ và người dân nói chung hiện đang cho kết quả rất khả quan ở nhiều quốc gia trên thế giới. Với người bệnh vảy nến nói riêng, được tiếp cận vaccine phòng ngừa COVID-19 rất cần thiết.
Vaccine phòng COVID-19 có tác động thế nào với bệnh nhân vảy nến?
Theo khuyến cáo của Hội đồng Bệnh vảy nến quốc tế (IPC), cần nên lưu ý những điều sau:
1. Những lưu ý chính đối với vaccine phòng COVID-19 cũng giống như đối với bất kỳ vaccine nào: Tránh dùng vaccine sống làm giảm độc lực nếu đang dùng thuốc ức chế miễn dịch/điều hòa miễn dịch cho bệnh nhân và lưu ý rằng hiệu quả của việc tiêm phòng có thể bị suy giảm ở những người dùng thuốc ảnh hưởng đến hệ miễn dịch .
2. Hiện tại, các loại vaccine được sử dụng gần nhất ở quy mô dân số là loại dựa trên RNA (Pfizer/ BioNTech, Moderna) hoặc dựa trên virus thiếu khả năng sao chép (Oxford/AstraZeneca). Chúng không phải là vaccine sống giảm độc lực.
Vì vậy bệnh nhân vảy nến dù đang điều trị thuốc ức chế miễn dịch có thể tiêm vaccine phòng COVID-19.
3. Bệnh nhân mắc bệnh vảy nến nếu không có chống chỉ định hoặc không bị dị ứng với thành phần vaccine sẽ được khuyến nghị tiêm một trong các loại vaccine phòng COVID-19 này càng sớm càng tốt dựa trên sự sẵn có tại địa phương và hướng dẫn của các cơ quan y tế công cộng địa phương .
4. Các thử nghiệm cho đến nay không bao gồm những người dùng thuốc ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch và do đó tác dụng của vaccine đối với nhóm dân số cụ thể này sẽ cần được thiết lập, theo dõi.
5. Nhiều người bị bệnh vảy nến đã nêu lên lo ngại về tác dụng phụ tiềm ẩn của vaccine đối với bệnh da của họ. Tuy nhiên, hiện không có bằng chứng cho thấy vaccine ảnh hưởng đến sự khởi phát hoặc mức độ nghiêm trọng của bệnh vảy nến.
6. Điều quan trọng là tất cả bệnh nhân bị vảy nến phải được chăm sóc đầy đủ. Điều này bao gồm việc tiếp cận với vaccine phòng COVID-19.

Hiểu thêm về bệnh vảy nến
Theo ước tính có khoảng 2 - 3% dân số thế giới mắc bệnh vảy nến. Ở Việt Nam tuy chưa có số liệu điều tra chính xác nhưng theo ước tính có từ 1,5-2% dân số mắc bệnh vảy nến.
Căn bệnh này thường xuất hiện ở tuổi ngoài 20, có thể gặp ở người lớn tuổi ngoài 50, đôi khi ở trẻ nhỏ dưới 10 tuổi và nếu ở tuổi này thì thường có yếu tố gia đình với biểu hiện bệnh nặng hơn, kéo dài hơn. Tỷ lệ bệnh ở nam và nữ như nhau.
Cơ chế sinh bệnh vảy nến bao gồm yếu tố gen di truyền, rối loạn yếu tố miễn dịch, và các yếu tố từ môi trường. Yếu tố di truyền, nếu bố hoặc mẹ bị bệnh thì có khoảng 8% con bị bệnh, nếu cả bố và mẹ bị bệnh thì tới 41% con mắc bệnh. Các yếu tố khác như nhiễm khuẩn, chấn thương, thuốc, thức ăn.
Ngoài ra, các yếu tố có thể làm bệnh nặng hơn là các sang chấn như gãi, chà sát mạnh. Nhiễm trùng mà thường là nhiễm liên cầu. Các stress tâm lý , sử dụng thuốc corticosteroid, lithium, các thuốc chống sốt rét, interferon... có thể làm nặng bệnh. Rượu cũng là tác nhân làm cho bệnh nặng lên...
Bệnh vảy nến không gây chết người nhưng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý và chất lượng cuộc sống của người bệnh. Đây là một bệnh mạn tính, diễn biến bệnh lâu dài, có thể khỏi một thời gian dài nhưng cũng có nhiều trường hợp tái phát liên tục.
Do đó, việc điều trị cần phải có sự phối hợp rất chặt chẽ giữa thầy thuốc và người bệnh để có thể tìm ra phương pháp điều trị tối ưu, hiệu quả, ít tác dụng phụ và phù hợp với hoàn cảnh người bệnh về kinh tế, công việc và gia đình, xã hội.
Tham khảo thông tin tại bài viết: 5 vấn đề sức khoẻ bệnh nhân vẩy nến hay mắc phải.
Nhịn ăn là phương pháp được áp dụng từ lâu đời, dưới nhiều hình thức khác nhau… chúng còn phổ biến trong một sô tôn giáo, hoặc được áp dụng trong một số biện pháp phòng và điều trị bệnh mạn tính, rối loạn chuyển hóa. Cơ chế ảnh hưởng của nhịn ăn tới chức năng hoạt động của các cơ quan, sinh lý tế bào và sinh học phân tử cũng ngày càng được khoa học chứng minh. Điển hình là giải thưởng Nobel về Sinh lý Y học năm 2016 [1], được trao cho nhà khoa học Nhật -Yoshinori Ohsum, đã chứng minh các vai trò quan trọng của tự thực bào (autophagy) và một số gen điều hòa hoạt động tự thực bào, giúp sáng tỏ thêm nhiều cơ chế phân tử tế bào, cũng như sản xuất ra các thuốc mới trong trong phòng chống bệnh tật.
Nhiều người thường chọn xu hướng rời xa vùng đồng bằng để tìm đến các vùng núi cao như một lựa chọn lý tưởng vào mùa thu nhằm tận hưởng không khí trong lành. Khí hậu se lạnh, mát mẻ tại các đỉnh núi cao luôn mang lại cảm giác dễ chịu và thư thái. Tuy nhiên, ẩn sau bức màn thời tiết lý tưởng đó là những cạm bẫy khí hậu có thể đe dọa trực tiếp đến hệ miễn dịch của du khách nếu không biết cách bảo vệ sức khỏe trước đặc trưng thời tiết miền núi vào mùa thu. Để giúp bạn có một chuyến đi an toàn và trọn vẹn, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ thông tin về những nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn cùng cẩm nang thích nghi khoa học ngay dưới đây.
Hiểu đúng nguyên nhân và chủ động điều chỉnh chế độ dinh dưỡng là giải pháp giúp người độ tuổi 60 duy trì sức khỏe và cơ bắp.
Những gì bạn uống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và vẻ ngoài của làn da. Các lựa chọn giàu chất dinh dưỡng và dưỡng chất như nước chanh, trà xanh và nước hầm xương có thể giúp hỗ trợ làn da khỏe mạnh hơn.
Nước lá đinh lăng hỗ trợ kích thích trao đổi chất và chuyển hóa mỡ thừa, giảm cân hiệu quả khi dùng đúng.
Mỗi mùa khai trường, các hàng quán ăn vặt di động rực rỡ sắc màu trước cổng trường luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với học sinh sau giờ tan học. Tuy nhiên, những món ăn nhanh giá rẻ này lại ẩn chứa nhiều hiểm họa khôn lường về thực phẩm bẩn, trở thành nỗi lo âu sâu sắc của gia đình và nhà trường. Để bảo vệ sức khỏe con trẻ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những góc nhìn khoa học và cảnh báo chi tiết về mối nguy hại từ các loại đồ ăn vặt cũng như thức ăn đường phố này.
Chế độ ăn uống lành mạnh giúp bảo vệ sức khỏe và duy trì năng lượng cho phụ nữ tuổi 40.
Cơn gout (gút) cấp tính luôn là nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với người bệnh bởi những cơn đau nhức dữ dội, bỏng rát bùng phát đột ngột vào ban đêm. Việc chịu đựng các khớp sưng tấy tột cùng không chỉ gây kiệt quệ về thể xác mà còn tiềm ẩn nguy cơ hủy hoại khớp nếu không được can thiệp kịp thời.