May mắn thay, các nghiên cứu đang phát triển cho thấy rằng giảm cân trong khi mang thai có thể - và thậm chí có lợi - đối với một số phụ nữ cực kỳ thừa cân hoặc béo phì (có chỉ số BMI trên 30). Mặt khác, giảm cân không thích hợp với những phụ nữ mang thai có cân nặng bình thường trước khi mang thai. Nếu bạn tin rằng mình có thể có được lợi ích từ việc giảm cân khi mang thai, hãy nói chuyện với bác sĩ về cách thực hiện điều này một cách an toàn mà không ảnh hưởng đến em bé của bạn.

Lập kế hoạch giảm cân từ từ trong thai kỳ
Ngay cả trước khi được sinh ra, đứa con trong tương lai của bạn dựa vào bạn theo nhiều cách. Cơ thể bạn nuôi dưỡng và mang chúng trong khoảng 40 tuần, giúp chúng lớn lên và phát triển. Thừa cân có thể gây ra các vấn đề trong thai kỳ vì nó có thể cản trở các quá trình này. Béo phì khi mang thai dẫn đến:
Bất chấp những nguy hiểm như vậy, cách tốt nhất để giảm cân của bạn là thông qua một kế hoạch nhất quán, nhưng dần dần, tập trung vào thay đổi lối sống lành mạnh hơn. Giảm cân từ từ là tốt nhất cho cơ thể của bạn và thai nhi. Nếu bác sĩ khuyên bạn nên giảm cân, thì đây là cách thực hiện kế hoạch này một cách an toàn khi mang thai:
1. Biết bạn cần tăng bao nhiêu cân
Mặc dù đây là một kế hoạch giảm cân nhưng thực tế trong thai kỳ bạn vẫn sẽ tăng cân. Tuy nhiên điều quan trọng là phải biết lượng cân nặng hợp lý cần tăng là bao nhiêu. Thực hiện theo các hướng dẫn tăng cân khi mang thai sau đây của Viện Quốc gia về Bệnh tiểu đường, Tiêu hóa và Bệnh thận, dựa trên cân nặng của bạn trước khi mang thai:
2. Cắt giảm lượng calo
Cách đầu tiên bạn có thể giảm cân là giảm lượng calo tiêu thụ hàng ngày. Ăn nhiều calo hơn mức bạn đốt cháy là nguyên nhân phổ biến nhất của tăng cân. Cần thâm hụt 3.500 calo để giảm 0.5kg. Trong khoảng thời gian một tuần, điều này tương đương với khoảng 500 calo mỗi ngày để cắt giảm. Trước khi bạn cắt giảm nhiều calo này khỏi chế độ ăn uống của mình, hãy nhớ ghi nhật ký và tính xem bạn thực sự ăn bao nhiêu calo. Bạn có thể nói chuyện với chuyên gia dinh dưỡng để thảo luận về kế hoạch thực phẩm.
Hãy nhớ rằng phụ nữ mang thai nên ăn không ít hơn 1.700 calo mỗi ngày. Đây là mức tối thiểu và giúp đảm bảo rằng cả bạn và em bé của bạn đều nhận được đủ năng lượng và chất dinh dưỡng một cách thường xuyên. Nếu bạn thường tiêu thụ nhiều calo hơn mức này, hãy cân nhắc cắt giảm dần dần. Ví dụ, bạn có thể:
Uống vitamin trước khi sinh hàng ngày để đảm bảo rằng bạn nhận được tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho bạn và thai nhi. Folate đặc biệt quan trọng, vì nó giúp giảm nguy cơ dị tật bẩm sinh.
3. Tập thể dục 30 phút mỗi ngày
Một số phụ nữ ngại tập thể dục vì sợ nó gây hại cho thai nhi. Nhưng điều này chắc chắn không đúng. Trong khi một số bài tập có thể có hại (như yoga tư thế khó, chạy điền kinh,...), nhưng tập thể dục tổng thể là cực kỳ có lợi. Nó có thể giúp bạn duy trì cân nặng, giảm dị tật bẩm sinh và thậm chí giảm bớt một số cơn đau nhức mà bạn gặp phải khi mang thai. Khuyến nghị cho phụ nữ có thai hiện tại không khác với phụ nữ chưa mang thai: 30 phút hoạt động mỗi ngày. Nếu điều này là quá nhiều đối với bạn để bắt đầu, hãy cân nhắc chia nhỏ 30 phút thành các khoảng thời gian ngắn hơn trong ngày. Một số bài tập tốt nhất cho phụ nữ mang thai là bơi lội, đi dạo, làm vườn, yoga trước khi sinh,... Mặt khác, bạn nên tránh bất kỳ hoạt động nào dưới đây:
4. Giải quyết sớm những lo lắng về cân nặng
Mặc dù bạn chắc chắn sẽ tăng cân một cách tự nhiên khi mang thai, nhưng phần lớn sự tăng cân này xảy ra trong ba tháng giữa và 3 tháng cuối thai kỳ. Em bé của bạn cũng phát triển nhanh chóng trong hai tháng cuối của thai kỳ. Bạn không thể kiểm soát việc tăng cân do em bé của bạn và các yếu tố hỗ trợ như nhau thai, vì vậy tốt nhất là bạn nên giải quyết mọi vấn đề về cân nặng sớm hơn trong thai kỳ. Một số thành công trong việc can thiệp cân nặng ở phụ nữ mang thai đã được báo cáo thông qua một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Ob fat. Các nhà nghiên cứu cho thấy những phụ nữ nhận được lời khuyên từ tuần thứ 7 đến 21 của thai kỳ ít có khả năng tăng cân quá mức trong tam cá nguyệt thứ ba. Đây chỉ là một ví dụ về việc lập kế hoạch sớm giúp hạn chế tăng cân quá mức. Nếu bạn muốn giảm cân hoặc kiểm soát lượng cân nặng tăng lên tổng thể trong thai kỳ, hãy nhớ để bác sĩ giúp bạn lập kế hoạch sớm. Bác sĩ cũng có thể giới thiệu bạn đến chuyên gia dinh dưỡng để được tư vấn thêm và lên thực đơn cho bữa ăn.
Đối với hầu hết phụ nữ mang thai, quản lý cân nặng an toàn hơn bất kỳ hình thức giảm cân đáng kể nào. Mặc dù lợi ích của việc giảm cân khi mang thai là rất lớn, nhưng nó không phù hợp với những phụ nữ có cân nặng bình thường trước khi mang thai (BMI trong khoảng 18.5 đến 24.9). Những phụ nữ mang thai nên áp dụng phương pháp giảm cân truyền thống: cắt giảm calo và tập thể dục. Nhưng tuyệt đối không lạm dụng việc giảm cân đến mức có thể gây hại cho em bé của bạn. Đây là lý do tại sao hầu hết các bác sĩ không khuyên bạn nên giảm cân khi mang thai, trừ khi bạn thừa cân đáng kể. Bác sĩ có thể giúp bạn đưa ra quyết định an toàn nhất cho bạn và thai nhi. Bạn luôn có thể xem lại kế hoạch giảm cân lành mạnh tổng thể sau khi sinh con.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Cho con bú giúp giảm cân sau sinh
Rotavirus là một bệnh vi khuẩn thường xảy ra phổ biến ở trẻ em. Hằng năm, trên thế giới có hơn 235.000 ca tử vong do virus này gây ra (Theo thống kê của Pubmed Central năm 2019).
Dầu cá là một loại thực phẩm bổ sung được ưa chuộng cho sức khỏe tim mạch. Dầu cá chứa nhiều axit béo omega-3 như EPA và DHA, được biết đến với lợi ích chống viêm và khả năng giảm triglyceride. Nhưng còn cholesterol thì sao? Việc bổ sung dầu cá vào chế độ ăn uống có giúp ích hay gây hại cho chỉ số cholesterol của bạn? Dưới đây là những gì xảy ra với cholesterol của bạn khi bạn bắt đầu sử dụng dầu cá, theo nghiên cứu mới nhất.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Việc thức xuyên đêm để theo dõi các trận bóng đá đỉnh cao là thói quen quen thuộc của nhiều người hâm mộ, nhưng hành động xem tivi hoặc điện thoại liên tục trong nhiều giờ lại tiềm ẩn vô số hệ lụy cho thị lực. Thói quen này dễ dẫn đến các tình trạng tổn thương mắt nghiêm trọng với những triệu chứng khó chịu như ê nhức, đỏ rát và khô mờ. Để có thể vừa cháy hết mình cùng niềm đam mê, vừa bảo vệ và gìn giữ được đôi mắt luôn sáng khỏe, người xem cần biết cách chăm sóc, nghỉ ngơi và bảo vệ mắt hợp lý theo những chia sẻ, khuyến nghị Viện Y học ứng dụng Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”