Hiện có 21 loại vaccine COVID-19 được phép sử dụng trên toàn cầu. Tại Vương quốc Anh, hơn 36.500.000 người đã được tiêm chủng đầy đủ COVID-19 cho đến nay. Tại Hoa Kỳ, hơn 162.100.000 người hiện đã được tiêm chủng đầy đủ. Trên toàn thế giới, hơn 13% dân số đã được tiêm phòng đầy đủ COVID-19, theo dữ liệu do Google tổng hợp.

Giám sát an toàn vaccine vẫn tiếp tục đối với tất cả các loại vaccine trên toàn thế giới. Các cơ quan y tế tiếp tục khuyến khích những người được tiêm vắc xin COVID-19 báo cáo bất kỳ tác dụng phụ nào cho các bác sĩ. Hàng triệu người được tiêm chủng đã gặp phải các phản ứng phụ, bao gồm sưng, đỏ và đau tại chỗ tiêm. Sốt, nhức đầu, mệt mỏi, đau cơ, ớn lạnh và buồn nôn cũng thường được báo cáo. Tuy nhiên, đối với bất kỳ loại vaccine nào cũng vậy, không phải ai cũng sẽ phản ứng theo cùng một cách. Nhiều người đã báo cáo họ không gặp phải các phản ứng phụ sau khi tiêm chủng. Điều này có nghĩa là họ không được bảo vệ chống lại SARS-CoV-2? Không có mối tương quan trực tiếp giữa tác dụng phụ và khả năng bảo vệ của vaccine.
Các chuyên gia tuyên bố rằng việc có hay không xuất hiện tác dụng phụ đều cho thấy khả năng miễn dịch. Không có mối tương quan trực tiếp giữa tác dụng phụ và khả năng bảo vệ. Dữ liệu từ các thử nghiệm vaccine mRNA COVID-19 hai liều - Pfizer-BioNTech và Moderna - chỉ ra rằng chúng có hiệu quả phòng ngừa bệnh trên 90%. Dưới 10% những người được tiêm chủng đầy đủ có thể có một phần hoặc không có khả năng bảo vệ. Do cách thức hoạt động của vaccine - bằng cách thúc đẩy cơ thể xây dựng khả năng miễn dịch chống lại mầm bệnh mục tiêu - những người có hệ thống miễn dịch bị tổn thương có thể không tạo được miễn dịch hoàn toàn hoặc thậm chí một phần đối với SARS-CoV-2. Một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc ức chế miễn dịch và một số loại thuốc được sử dụng trong điều trị ung thư, cũng có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả của vaccine COVID-19.
Xét nghiệm kháng thể có thể cho chúng ta biết điều gì?
Một số nhà khoa học đã gợi ý rằng xét nghiệm kháng thể có thể giúp đánh giá liệu vaccine COVID-19 có thúc đẩy khả năng miễn dịch đối với loại coronavirus mới hay không. Tuy nhiên, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) gần đây đã đưa ra một tuyên bố nói rằng “không nên sử dụng các xét nghiệm kháng thể để đánh giá mức độ miễn dịch hoặc bảo vệ của một người khỏi COVID-19 bất kỳ lúc nào, và đặc biệt là sau khi người đó được tiêm chủng vaccine COVID-19. Mặc dù xét nghiệm kháng thể có vẻ là một cách hợp lý để xác định xem một người đã phát triển kháng thể đối với SARS-CoV-2 hay chưa, kết quả xét nghiệm dương tính không nhất thiết chỉ ra rằng một người sẽ không phát triển COVID-19. FDA lo ngại rằng xét nghiệm kháng thể có thể dẫn đến một thái độ thoải mái hơn trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa chống lại sự lây nhiễm với loại coronavirus mới. Do đó, điều này có thể dẫn đến làm gia tăng sự lây lan của SARS-CoV-2. Chuyên gia cho biết chưa có một mối tương quan nào về khả năng miễn dịch đối với SARS-CoV-2 giống như chúng ta có đối với các bệnh có thể phòng ngừa bằng vaccine khác. Và chúng ta phải nhớ rằng các xét nghiệm huyết thanh COVID-19 có sẵn, trong đó có nhiều xét nghiệm và có thể khác nhau về mục tiêu / đặc điểm hiệu suất, không được thiết kế để chỉ ra 'khả năng miễn nhiễm' với sự tái nhiễm mà thay vào đó để chỉ ra liệu một cá nhân có gắn kết đáp ứng miễn dịch với virus hay không. Liệu phản ứng miễn dịch đó có đủ cho khả năng miễn dịch lâu dài hay không không phải là điều mà các xét nghiệm này có thể cho chúng ta biết một cách dứt khoát vào thời điểm này.
Thông thường, mất 2 tuần sau khi tiêm liều thứ hai của vaccine Pfizer-BioNTech hoặc Moderna và 2 tuần sau khi tiêm liều duy nhất của Johnson & Johnson, cơ thể mới xây dựng khả năng bảo vệ chống lại SARS-CoV-2. Trong thời gian này, vẫn có khả năng bạn mắc COVID-19. Chuyên gia nói thêm, sự gia tăng hiện nay về các trường hợp COVID-19, chủ yếu xảy ra ở những người chưa được tiêm chủng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Các tác dụng phụ có thể xảy ra sau khi tiêm phòng vaccine COVID-19
Giống như ca sĩ hay diễn giả, giáo viên thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ đau họng do phải nói liên tục trong nhiều giờ. Tham khảo một số đồ uống đơn giản giúp các thầy cô phòng ngừa và làm dịu cơn đau họng một cách hiệu quả.
Mùa thu đến mang theo không khí se lạnh, giảm độ ẩm, khiến da và tóc dễ rơi vào tình trạng khô ráp, nứt nẻ và thiếu sức sống.Thay đổi thời tiết không chỉ ảnh hưởng đến vẻ ngoài mà còn tác động đến sức khỏe của làn da và mái tóc. Điều chỉnh quy trình chăm sóc da và bảo vệ tóc trước tình trạng tóc khô xơ khi giao mùa là cần thiết để duy trì vẻ đẹp tự nhiên. Bài viết này sẽ cung cấp những phương pháp khoa học giúp bạn bảo vệ da và tóc hiệu quả trong mùa giao mùa.
Nhờ hiệu quả của thuốc kháng virus (ARV), ngày càng nhiều trẻ nhiễm HIV có thể phát triển, học tập và sinh hoạt bình thường như những trẻ khác. Tuy nhiên, dinh dưỡng vẫn là nền tảng của chăm sóc điều trị, giúp duy trì cân nặng, tăng sức đề kháng, giảm biến chứng và hạn chế tác dụng phụ của thuốc.
Lõm ngực bẩm sinh xảy ra khi xương ức phát triển bất thường tạo ra vết lõm trên thành ngực của bạn và có thể gây ra các vấn đề về thể chất cũng như cảm xúc cho trẻ. Cùng tìm hiểu về bệnh lý lõm ngực bẩm sinh ở trẻ qua bài viết sau đây!
Thời tiết lạnh giá và chuyển mùa thường làm gia tăng các vấn đề về xương khớp, gây ra tình trạng đau cứng khớp và khó khăn khi vận động. Sự thay đổi của nhiệt độ và độ ẩm có thể làm các mô cơ giãn nở, tạo áp lực lên khớp, dẫn đến cảm giác đau nhức hoặc tê cứng.
Hà Nội, ngày 27/11/2025 – Kết quả nghiên cứu mới nhất do Viện Y học ứng dụng Việt Nam thực hiện được công bố tại Hội thảo khoa học “Thực trạng dinh dưỡng, sức khỏe người cao tuổi ở một số thành phố lớn và đề xuất một số giải pháp” đã chỉ ra những thách thức lớn trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (NCT) tại các đô thị lớn.
Chế độ ăn kiêng low-carb (ít carbohydrate) đã chứng minh được hiệu quả trong việc giảm cân nhanh chóng và cải thiện nhiều chỉ số sức khỏe. Tuy nhiên, chìa khóa để thành công không phải là việc cắt giảm carb một cách mù quáng, mà là thực hiện một cách thông minh, bền vững để biến nó thành một lối sống lâu dài.
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh phổ biến và gây tử vong cao trên toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam. Tại Việt Nam, ung thư đại trực tràng cũng nằm trong top năm loại ung thư gây tử vong hàng đầu. Tuy nhiên, nguy cơ mắc bệnh có thể giảm đáng kể thông qua các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Bài viết này sẽ đưa ra lời khuyên thiết thực để phòng ngừa ung thư đại trực tràng, bao gồm điều chỉnh chế độ ăn uống, tăng cường vận động và sàng lọc định kỳ, giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe.