FDA đã phân loại các loại thuốc không cần kê đơn và các loại thuốc cần kê đơn thành từng nhóm. Những loại thuốc trong nhóm A, B và C được coi là an toàn để sử dụng trong quá trình mang thai. Nguyên nhân là vì lợi ích của việc dùng thuốc để điều trị bệnh sẽ lớn hơn nguy cơ do việc không dùng thuốc đem lại. Phân loại cụ thể như sau:
Thuốc nhóm A: Các nghiên cứu có nhóm chứng trên phụ nữ mang thai đã chứng minh rằng những thuốc này không có nguy cơ ảnh hưởng đến thai nhi trong 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ.
Thuốc nhóm B: Nghiên cứu trên động vật chưa chứng minh được các ảnh hưởng tiêu cực lên thai nhi, nhưng cũng chưa có nghiên cứu kiểm chứng tính an toàn trên người. HOẶC nghiên cứu trên động vật cho thấy có các ảnh hưởng tiêu cực lên thai nhi nhưng những ảnh hưởng này chưa được kiểm chứng bởi nghiên cứu trên người trong 3 tháng đầu thai kỳ.
Thuốc nhóm C: Nghiên cứu trên động vật cho thấy các ảnh hưởng tiêu cực lên thai nhi VÀ không có các nghiên cứu có nhóm chứng trên phụ nữ hoặc trên động vật. Các thuốc thuộc nhóm này sẽ được sử dụng một cách thận trọng và chỉ được sử dụng khi cân nhắc kỹ càng cho thấy lợi ích nhiều hơn nguy cơ.
Thuốc nhóm D: Có những bằng chứng cho thấy thuốc gây nguy cơ với thai nhi trên động vật hoặc trên người. Thuốc thuộc nhóm này vẫn có thể được sử dụng nếu lợi ích nhiều hơn nguy cơ, ví dụ như trong trường hợp đe doạ tính mạng.
Thuốc thuộc nhóm X: Nghiên cứu trên người hoặc động vật đã chứng minh được các tác dụng tiêu cực với thai nhi HOẶC các tác dụng tiêu cực đã được chứng minh bằng các nghiên cứu cộng đồng. Nguy cơ xảy ra khi uống thuốc lớn hơn bất cứ lợi ích nào mà thuốc mang lại. Tuyệt đối không được kê đơn cho phụ nữ đang mang thai hoặc chuẩn bị mang thai.
Thuốc giảm đau hoặc thuốc đau đầu
Paracetamon (thuộc nhóm B) là loại thuốc thường được sử dụng để giảm đau trong khi mang thai. Loại thuốc này được sử dụng khá rộng rãi và có rất ít tài liệu ghi chép lại các tác động bất lợi của thuốc.
Ngược lại, aspirin và các thuốc chống viêm không chứa steroid (NSAIDs) lại là các loại thuốc nên tránh sử dụng trong quá trình mang thai. Các thuốc NSAIDs bao gồm:
Nếu bạn bị đau dữ dội, như sau phẫu thuật, bác sỹ có thể sẽ kê đơn sử dụng các thuốc opioid trong thời gian ngắn. Khi được sử dụng đúng chỉ dẫn, các thuốc này sẽ không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Nguyên nhân là vì sử dụng opioid trong quá trình mang thai sẽ có thể đem lại nguy cơ mắc hội chứng cai sau khi sinh.

Thuốc cảm lạnh
Các thuốc cảm lạnh chưa được nghiên cứu đầy đủ về việc sử dụng trong quá trình mang thai. Một số bác sỹ gợi ý rằng, nên đợi sau khi thai đã được 12 tuần mới sử dụng thuốc cảm lạnh để hạn chế tối đa các tác động bất lợi lên em bé.
Các loại thuốc cảm lạnh có thể sử dụng được bao gồm:
Các bác sỹ thường khuyên phụ nữ nên thử các biện pháp điều trị tại nhà trước khi dùng thuốc điều trị cảm lạnh, ví dụ như:
Ợ nóng và trào ngược axit
Các thuốc kháng axit không cần kê đơn có chứa acid alginic, muối nhôm, magie và canxi thường được coi là an toàn khi mang thai, bao gồm:
Các thuốc có chứa nhôm hydroxit-magie hydroxit (thuốc nhóm B)
Với tình trạng ợ nóng nghiêm trọng, bác sỹ có thể khuyên bạn nên sử dụng các thuốc chẹn H2, ví dụ như:
Thay đổi lối sống cũng có thể giúp làm giảm tình trạng ợ nóng, bao gồm:
Trao đổi với bác sỹ nếu tình trạng ợ nóng của bạn trở nên nặng hơn. Trong những trường hợp hiếm gặp, ợ nóng có thể là dấu hiệu của hội chứng HELLP – một biến chứng nghiêm trọng khi mang thai.
Đón đọc phần tiếp theo tại vienyhocungdung.vn
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Mang thai, chảy máu trong 3 tháng đầu thai kỳ
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.