Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chế độ ăn uống lành mạnh khi mang thai (phần 3)

Lựa chọn thực phẩm thông minh là nền tảng của dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai. Hãy cùng tìm hiểu xem chúng ta có thể ăn những gì với số lượng như thế nào nhé.

Kali

Kali là một khoáng chất ảnh hưởng đến chức năng tế bào, cân bằng chất lỏng và điều hòa huyết áp, cũng như chức năng thần kinh và cơ bắp. Mặc dù không có khuyến nghị về kali dành cho người trưởn thành nhưng hầu hết các bác sĩ đều đồng ý rằng phụ nữ mang thai cần ít nhất 2.000 mg mỗi ngày. Vitamin dành cho bà bầu có thể cung cấp kali, nhưng kali có mặt ở mức cao trong các loại thực phẩm như:

  • chuối
  • bơ
  • cam
  • dưa hấu
  • rau màu xanh đậm
  • thịt
  • Sữa
  • hạt
  • các loại đậu

Phốt pho

Yếu tố này là một phần quan trọng trong sự phát triển của hệ thống cơ bắp, tuần hoàn và xương. Hàm lương phốt pho khuyến nghị cho phụ nữ mang thai là 700mg/ngày. Các nguồn cung cấp phốt pho bao gồm sữa, sữa chua, đậu, hải sản và các loại hạt.

Riboflavin (B2)

Vitamin này rất quan trọng cho sự phát triển và tăng trưởng của bào thai. Khuyến nghị cho phụ nữ có thai là 1,6 mg và 1,8 mg đối với phụ nữ cho con bú. Vitamin dành cho bà bầu có thể là nguồn cung cấp phù hợp nhất của bạn, nhưng B2 có thể được tìm thấy trong gan, với lượng nhỏ hơn có trong đậu nành, sữa chua và nấm.

Thiamine (B1)

Thiamine rất quan trọng cho sự trao đổi chất và phát triển của não, hệ thần kinh và tim. Khi bạn mang thai, bạn cần tăng ường bổ sung nhiều loại vitamin, kể cả B1. Nhu cầu khuyến nghị cho phụ nữ có thai là khoảng 1,3 mg/ngày

Vitamin A

Vitamin A rất quan trọng cho sự tăng trưởng tế bào và sự phát triển của mắt, da, máu, khả năng miễn dịch và khả năng chống nhiễm trùng.

Vitamin B6 (pyridoxin)

Vitamin B6 rất quan trọng cho sự trao đổi chất của cơ thể và cho sự phát triển của hệ thần kinh và não của thai nhi. Nhu cầu khyến nghị dành cho phụ nữ có thai là 2,2 mg/ngày.

Kẽm

Nhu cầu khuyến nghị kẽm cho phụ nữ mang thai là 11 mg mỗi ngày và 12 mg đối với phụ nữ cho con bú. Bạn có thể mua các loại vitamin dành cho bà bầu có chứa kẽm. Các nguồn cung cấp kẽm bao gồm thịt đỏ, hạt, quả hạch và đậu.

Vitamin B-12

Vitamin B-12 được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm từ sữa. Vì vậy, người ăn chay thường sẽ bị thiếu viamin B12. Nếu bạn có chế độ ăn uống hạn chế, hãy chắc chắn rằng viên uống vitamin của bạn có đủ lượng vitamin B-12.

Vitamin C (axit ascorbic)

Cơ thể không dự trữ Vitamin C, vì vậy bạn cần nguồn thông thường để đáp ứng yêu cầu hàng ngày của bạn. Nhu cầu khuyến nghị cho phụ nữ có thai là 85 mg mỗi ngày. Bạn có thể đạt được mục tiêu của bạn thông qua việc bổ sung trái cây họ cam quýt, thêm chanh tươi hoặc nước chanh vào nước của bạn, và tiêu thụ trái cây tươi và rau quả như quả mọng, ớt chuông và bông cải xanh hàng ngày

Vitamin D

Con người sản xuất vitamin D tại da của họ khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Vitamin D được tìm thấy tự nhiên chỉ trong một số loại dầu gan cá. Do mức độ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời của mỗi người là khác nhau và vitamin này rất quan trọng đối với phụ nữ mang thai và trẻ em đang lớn, nên vitamin D đã được bổ sung thêm vào các sản phẩm từ sữa . Bổ sung vitamin D đặc biệt quan trọng nếu bạn không uống sữa.

Bạn nên thường xuyên trao đổi với bác sĩ nếu bạn lo lắng về chế độ ăn uống của bạn. Chúng có thể giúp bạn xác định xem bạn có đủ chất dinh dưỡng hay không.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nguyên tắc dinh dưỡng cho thai kỳ khỏe mạnh

CTV Võ Dung - Viện Y học ứng dụng Việt Nam (theo Healthline)
Bình luận
Tin mới
  • 27/09/2026

    Sốt xuất huyết Dengue - dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm không thể bỏ qua

    Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, lây truyền qua vết đốt của muỗi vằn Aedes, phổ biến tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó có Việt Nam.

  • 27/09/2026

    Ăn sáng giàu protein có giúp kiểm soát đường huyết?

    Nhiều ý kiến cho rằng, ăn nhiều protein vào bữa sáng có thể giúp kiểm soát đường huyết. Thực tế thế nào?

  • 27/09/2026

    Tâm lý tuổi dậy thì THCS: Kết nối bạn bè và áp lực "phải người lớn"

    Giai đoạn Trung học cơ sở (THCS) đánh dấu một cột mốc chuyển giao quan trọng trong cuộc đời của mỗi đứa trẻ. Đây là thời kỳ các em không còn là những đứa trẻ vô tư, nhưng cũng chưa thực sự trở thành người lớn. Chính sự lấp lửng này, kết hợp cùng những biến đổi mạnh mẽ từ bên trong lẫn bên ngoài, đã khiến nhiều học sinh rơi vào trạng thái chông chênh, dễ dẫn đến những bất ổn tinh thần nghiêm trọng. Việc thấu hiểu sâu sắc thế giới nội tâm của trẻ ở giai đoạn này là chìa khóa vàng giúp gia đình và nhà trường ngăn ngừa những hệ lụy về mặt sức khỏe tâm thần.

  • 26/09/2026

    Lời khuyên để sống lâu hơn khi mắc ung thư

    Khi mắc ung thư, có rất nhiều điều bạn có thể làm mỗi ngày để không chỉ vượt qua bệnh tật mà còn cảm thấy khỏe khoắn và tận hưởng cuộc sống một cách tốt nhất. Dù bạn đang trong quá trình điều trị hay đã hoàn tất, dưới đây là những lời khuyên giúp bạn tự chăm sóc bản thân.

  • 26/09/2026

    Tác dụng bất ngờ của quả bưởi đối với sức khỏe con người

    Khám phá hàm lượng dinh dưỡng và lợi ích thiết thực từ quả bưởi giúp bảo vệ cơ thể toàn diện.

  • 26/09/2026

    9 dấu hiệu bất ngờ báo hiệu cơn đau nửa đầu sắp xảy ra

    Các cơn đau nửa đầu có thể bao gồm giai đoạn tiền triệu với những dấu hiệu cảnh báo tinh tế cho thấy cơn đau nửa đầu sắp xảy ra. Khi bạn bắt đầu nhận ra các triệu chứng tiền triệu, bạn có thể bắt đầu điều trị đau nửa đầu ở giai đoạn sớm đó để giảm mức độ nghiêm trọng và thời gian của cơn đau.

  • 25/09/2026

    Bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác (AMD)

    Bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác thường gặp ở người già, bệnh gây nhiều khó chịu do thị lực của bạn bị kém đi, nhạy cảm với ánh sáng, gặp khó khăn khi phải đọc sách hay nhận diện khuôn mặt. Cùng tìm hiểu về bệnh thoái hoá điểm vàng do tuổi tác có triệu chứng gì và hiện nay đang có phương pháp nào điều trị bệnh qua bài viết sau!

  • 25/09/2026

    Ăn hơn 30 g đạm một bữa có bị lãng phí?

    Nhiều người tin cơ thể chỉ có thể hấp thụ 20–30 g đạm (protein) trong một bữa, phần ăn thêm sẽ bị lãng phí. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học mới cho thấy đây là sự nhầm lẫn giữa khả năng hấp thụ đạm và mức kích thích tổng hợp protein cơ bắp.

Xem thêm