Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Dinh dưỡng trong khi có thai

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Chế độ dinh dưỡng trong khi có thai ảnh hưởng đáng kể đến sức khoẻ người mẹ và kích thước, tình trạng khoẻ mạnh của đứa trẻ.

Những phụ nữ mang thai nên sớm được chỉ dẫn về chế độ ăn uống trong việc chăm sóc trước đẻ và đưa vào chương trình thức ăn bổ sung nếu họ thiếu nguồn dinh dưỡng phù hợp. Việc chỉ dẫn phải nhấn mạnh yấn đề kiêng rượu, thuốc lá và ma tuý. Caffein và những viên đường hóa học nhân tạo chỉ nên sử dụng với số lượng ít.

Những chất rỗng calo nên tránh, và chế độ ăn nên chứa những thức ăn sau: thực phẩm protein nguồn gốc động vật và thực vật, sữa và các sản phẩm của sữa, tất cả các loại ngũ cốc, bánh mì và hoa quả, rau, đặc biệt là rau xanh.

Tăng cân ở phụ nữ có thai nên đạt được 20 - 40 pao (9 - 18kg), bao gồm trọng lượng thai, rau thai, nước ối và trọng lượng của những tổ chức sinh sản, dịch, máu, nguồn dự trữ chất béo tăng lên. Khối lượng cơ bắp cơ thể người mẹ tăng lên.

Nguồn dự trữ chất bép của người mẹ là sự cung cấp calo cho thai nghén và tiết sữa, việc hạn chế tăng trọng lượng trong lúc có thai làm cho không phát, triển nguồn dự trữ chất béo có thể ảnh hưởng đến sự phát triển tổ chức của thai và người mẹ là không nên.

Những bà mẹ béo có thể có những đứa trẻ bình thường với trọng lượng tăng ít (15 - 20 pao) (6,7 - 9kg), nhưng người ta cũng động viên nên ăn thức ăn chất lượng cao. Bình thường một phụ nữ mang thai tăng 2 - 5 pao (900 - 2250g) trong ba tháng đầu như vậy dưới 1 pao/tuần.

Thai phụ cần thêm vào khoảng 200 - 300 kcalo/ngày (phụ thuộc vào năng lượng xuất ra) và 30g/ngày protein thêm vào để cho tổng số protein đưa vào khoảng 75g/ngày. Lượng calo xấp xỉ đưa vào trong thời kỳ thai nghén giúp cho việc phòng ngừa những nguyên nhân gây ra trẻ nhẹ cân khi sinh.

Chế độ ăn hạn chế muối nghiêm ngặt là không cần thiết. Trong khi việc tiêu thụ những thức ăn sẵn có hàm lượng muối cao là không đáng khuyến khích, thì 2 - 3g muối/ngày là chấp nhận được. Nhu cầu calci tăng trong thời kỳ thai nghén (1200mg/ngày) có thể đáp ứng được bằng sữa, các sản phẩm của sữa, rau xanh, sản phẩm đậu nành, bánh ngũ cốc và những thức ăn bổ sung carbonat calci.

Nhu cầu sắt và acid folic tăng lên sẽ được đáp ứng bằng thức ăn cũng như các chất bổ sung vitamin và chất khoáng (xem bài thiếu máu trong khi có thai).

Trong khi có thai không nền dùng quá nhiều vitamin, vì chúng có thể dẫn đến dị dạng thai hoặc rối loạn chuyển hóa. Tuy nhiên, thức ăn bổ sung trước đẻ cân đối chứa 30 - 50mg sắt, 0,5 - 0,8 mg folat và cho phép sử dụng rộng rãi hàng ngày các chất khoáng và vitamin khác nhau ở Mỹ và có thể mang lại lợi ích cho nhiều phụ nữ với chế độ ăn không đầy đủ.

Rõ ràng là sự cung cấp thêm vitamin lúc gần mang thai, đặc biệt acid folic làm giảm nguy cơ dị dạng ống thần kinh cho thai nhi. Rau sữa và rau trứng tác dụng tốt cho thai, những phụ nữ ăn chay, họ không ăn trứng cũng như những sản phẩm sữa nên có chế độ ăn riêng sao cho protein và calon phù hợp và nên sử dụng những thực ăn bổ sung vitamin B12 trong khi có thai và cho con bú.

Theo Điều trị
Bình luận
Tin mới
  • 06/02/2026

    Những xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán thiếu máu

    Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!

  • 05/02/2026

    Rượu bia - Kẻ thù thầm lặng phá hoại sức khỏe sinh lý nam giới

    Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.

  • 05/02/2026

    Đăng ký tham gia tập huấn trực tuyến: Phòng chống tai nạn thương tích trong dịp Tết Nguyên đán

    Dịp Tết Nguyên đán là thời điểm gia tăng các hoạt động giao thương, đi lại và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn thương tích (TNTT) trong đời sống hàng ngày.

  • 05/02/2026

    Phòng ngừa các bệnh do rượu bia mùa lễ hội: Uống có trách nhiệm

    Mùa lễ hội là dịp để mọi người quây quần, gặp gỡ và chia sẻ niềm vui bên những bữa tiệc. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rượu bia không kiểm soát trong những sự kiện này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và an toàn. Từ các bệnh lý mạn tính như xơ gan, bệnh tim mạch đến những tai nạn giao thông đáng tiếc, tác hại rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây tổn thất cho xã hội. Để tận hưởng mùa lễ hội một cách an toàn, việc uống rượu an toàn và phòng say xỉn là điều cần thiết. Hãy là người uống có trách nhiệm !

  • 04/02/2026

    Thực phẩm bẩn có thể gây ra những bệnh ung thư nào?

    Việc sử dụng thực phẩm bẩn trong thời gian dài làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, đại tràng và ung thư vòm họng.

  • 04/02/2026

    Những điều cha mẹ cần biết về rối loạn tiêu hóa ở trẻ

    Mùa xuân là thời điểm trẻ nhỏ thường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe đường ruột do sự thay đổi đột ngột trong chế độ ăn uống và sinh hoạt. Sự kết hợp giữa các bữa tiệc tùng dịp lễ Tết và điều kiện môi trường nồm ẩm đặc trưng của mùa xuân tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại tấn công hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Để giúp phụ huynh có cái nhìn đầy đủ và chủ động bảo vệ sức khỏe cho con trẻ trong giai đoạn này, hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

  • 03/02/2026

    Không khí ô nhiễm tàn phá làn da như thế nào?

    Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn gây tổn hại sâu sắc cho làn da. Bụi mịn và khí độc có thể khiến da lão hóa sớm, viêm nhiễm và mất hàng rào bảo vệ tự nhiên.

  • 03/02/2026

    Vụ "hô biến" thịt hết hạn vào trường học: Quy trình an toàn đứt gãy ở đâu?

    TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, quy trình an toàn thực phẩm bị đứt gãy thường là kết quả của thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra độc lập và thiếu hệ thống quản lý.

Xem thêm