Thuốc thuộc nhóm thuốc độc bảng A nên dùng liều nhỏ và theo sự chỉ dẫn của bác sĩ để tránh quá liều và tăng độc tính của thuốc.
Tác dụng và cơ chế của digoxin
Trên tim: Đây là tác dụng chủ yếu, các glycosid làm thời gian tâm thu ngắn và mạnh, tâm trương dài ra, nhịp chậm lại nên tim được nghỉ nhiều hơn, máu từ nhĩ vào thất ở thời kỳ tâm trương nhiều hơn, cung lượng tim tăng, nhu cầu ôxy giảm (biểu hiện người bệnh đỡ khó thở, nhịp hô hấp dần trở lại bình thường).
Thuốc còn làm giảm tính dẫn truyền nội tại và tăng tính trơ của cơ tim nên khi có loạn nhịp nhanh thuốc có thể làm tim đập đều trở lại. Chính vì vậy, thuốc có tác dụng làm tim đập mạnh, chậm và đều.
Digoxin được chỉ định trong các trường hợp suy tim sung huyết, suy tim cung lượng thấp, loạn nhịp tim: rung nhĩ, cuồng động nhĩ. Cần lưu ý những trường hợp có nhịp nhanh xoang không phải là chỉ định của digoxin trừ khi có kèm suy tim.
Ngoài ra, do ức chế kênh Na+- K+-ATPase ở màng tế bào ống thận, làm tăng thải muối và nước gây lợi niệu, làm tăng cung lượng tim, do vậy thuốc có tác dụng giảm phù do suy tim.
Cũng chính do tác dụng lợi niệu nên thuốc gây tăng thải kali máu, cần thận trọng khi dùng cùng các thuốc làm hạ kali như: lợi niệu giảm kali, corticoid, insulin.
Dùng liều cao, thuốc làm tăng co bóp cơ trơn ở dạ dày, ruột nên có thể gây nôn, đại tiện lỏng. Thuốc cũng làm tăng co thắt khí, phế quản, tử cung nên có thể gây sẩy thai, vì thế cần thận trọng dùng cho phụ nữ đang mang thai. Trên thần kinh trung ương: kích thích trung tâm gây nôn ở sàn não thất IV, ngoài ra, thuốc có thể gây một số tác dụng phụ như rối loạn thị giác, nhức đầu, chóng mặt.
Những thận trọng cần thiết khi dùng digoxin
Do tác dụng làm tim đập chậm nên không dùng digoxin khi nhịp tim dưới 70 lần/phút, block nhĩ thất độ 2, 3; ngoại tâm thu thất. Người có hội chứng tiền kích thích (hội chứng Worlf-Parkinson- White) biểu hiện trên điện tim có PQ ngắn (<0,12 giây) dùng digoxin có thể gây xoắn đỉnh, rung thất, ngừng tim. Không dùng digoxin trước khi cấy máy tạo nhịp vì các digitalis có thể gây chậm xoang trầm trọng hay block xoang nhĩ sau đó. Khi rối loạn nồng độ các chất điện giải như: calci máu cao, magne và kali máu hạ sẽ làm thuốc gắn nhiều vào cơ tim hơn nên làm tăng khả năng nhiễm độc digoxin.
Thuốc hấp thu tốt qua đường uống và tác dụng kéo dài sau 2 giờ. Về phân bố, thuốc gắn 25-50% vào protein huyết tương, song sự gắn kết này không bền vững nên dễ giải phóng dạng tự do. Thuốc được chuyển hóa thành những chất ít hoặc không có hoạt tính, digoxin chuyển hóa ở gan khoảng 5-10%. Do có tính liên kết tương đối bền ở những mô mà thuốc có ái lực cao như thận, tim, gan, phổi và có chu kỳ thuốc chu kỳ ruột - gan nên thuốc có tính tích lũy trong cơ thể.
Vì thế, để hạn chế tích lũy thuốc nên dùng ngắt quãng (điều trị từng đợt), muốn chuyển đổi thuốc khác phải nghỉ ít nhất từ 3-5 ngày. Các thuốc làm tăng nồng độ digoxin trong huyết tương: verapamil, diltiazem, amiodaron, đặc biệt là quinidin. Các thuốc làm giảm hấp thu digoxin như: cholestyramin, neomycin, kaonin-pectin,…
Thuốc thuộc nhóm thuốc độc bảng A nên dùng liều nhỏ và theo sự chỉ dẫn của bác sĩ để tránh quá liều, tăng độc tính của thuốc. Khi dùng bằng đường tiêm nên kết hợp cùng glucose 30%, tiêm tĩnh mạch chậm để tránh ngừng tim đột ngột.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!