Khi bị các bệnh về khớp như thoái hóa khớp, viêm khớp mạn, viêm đa khớp dạng thấp thiếu niên… có thể dùng diclofenac để chữa trị. Ngoài ra, trong các trường hợp đau cấp trong viêm sau chấn thương, sưng nề hoặc đau mạn hay bị thống kinh nguyên phát người ta cũng thường dùng thuốc này để giảm đau, kháng viêm.
Diclofenac là thuốc chống viêm không steroid, do làm giảm đáng kể sự tạo thành những chất trung gian của quá trình viêm như prostaglandin… nên có tác dụng chống viêm, giảm đau, hạ sốt và là thuốc hay dùng điều trị để giảm viêm, giảm đau trong các bệnh về xương khớp.
Nhưng ưu điểm này cũng chính là nhược điểm của thuốc. Do giảm tổng hợp prostaglandin dẫn đến ức chế tạo mucin (chất có tác dụng bảo vệ đường tiêu hóa) nên diclofenac lại rất dễ dàng gây hại đường tiêu hóa. Một số tác dụng phụ thường gặp ở đường tiêu hóa như: đau vùng thượng vị, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, trướng bụng, chán ăn, khó tiêu.
Nặng hơn có thể gây chảy máu đường tiêu hóa, làm ổ loét sẵn có ở đường tiêu hóa tiến triển gây nôn ra máu hoặc đi ngoài ra máu… Thuốc cũng có thể gây nhức đầu, ù tai hoặc người bệnh có cảm giác bồn chồn, co thắt phế quản, mày đay và ảnh hưởng tới mắt (nhìn mờ, đau nhức mắt, nhìn đôi).
Và khi có triệu chứng dị ứng với diclofenac (gặp các tác dụng phụ trên) phải ngừng thuốc ngay và điều trị các tác dụng phụ (thường chỉ là điều trị triệu chứng và hỗ trợ). Vì vậy, phải dùng thuốc theo sự chỉ dẫn của thầy thuốc.
Để sử dụng an toàn thuốc này cần lưu ý, không dùng diclofenac trong các trường hợp sau: người bệnh bị loét dạ dày tiến triển, người bị hen hay co thắt phế quản, chảy máu, bệnh tim mạch, suy thận nặng hoặc suy gan nặng, người quá mẫn với diclofenac, aspirin hay các thuốc chống viêm không steroid khác. Người bệnh cần đi khám mắt khi có rối loạn thị giác trong quá trình dùng diclofenac.
Đối với người mang thai, chỉ dùng diclofenac khi thật cần thiết và khi người bệnh không dùng được các thuốc chống viêm thuộc các nhóm khác và chỉ dùng với liều cần thiết thấp nhất. Nhưng không nên dùng thuốc trong ba tháng cuối thai kỳ (vì nguy cơ ức chế tử cung co bóp và làm ống động mạch đóng sớm, gây tăng áp lực tiểu tuần hoàn không hồi phục, suy thận ở thai nhi). Đối với người định mang thai không nên dùng bất kỳ thuốc nào có tác dụng ức chế tổng hợp prostaglandin, kể cả diclofenac, vì ức chế phôi bào làm tổ.
Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.
Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.
Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?
Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.
Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.
Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.
Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.
Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.