Cần cảnh giác với bệnh viêm não mô cầu
Trong lâm sàng thường hay gặp và quan trọng hơn cả là hai thể bệnh viêm màng não và nhiễm khuẩn huyết. Đặc biệt ở thể nhiễm khuẩn huyết tối cấp gây tỷ lệ tử vong rất cao. Bệnh dễ thành dịch lớn và có khả năng gây tác động sâu sắc về mặt y tế, xã hội. Bệnh thường gặp vào mùa hè.
Não mô cầu có tên khoa học là Neisseria meningitidis, vi khuẩn là song cầu hình hạt cà phê nằm trong tế bào. Vi khuẩn dễ bị diệt bởi nhiệt độ 50oC trong 5 phút, 100oC chỉ trong 30 giây, các thuốc khử khuẩn thông thường như dung dịch cloramin 0,5 - 1% hay cồn 70o. Các nhóm vi khuẩn gây bệnh thường gặp là A, B, C, Y, W-135, trong đó ở nước ta thường gặp các nhóm A,B,C. Nguồn bệnh duy nhất là người: bệnh nhân hoặc người lành mang vi khuẩn không triệu chứng.
Não mô cầu cư trú tại vùng hầu họng của người và lây truyền theo các giọt nước nhỏ bài tiết qua đường hô hấp. Bệnh lây trực tiếp do tiếp xúc gần gũi hay gián tiếp qua trung gian đồ dùng chung có ô nhiễm chất mới bài tiết ra từ đường hô hấp của người mang trùng. Giữa các vụ dịch có đến 5-15% dân chúng thành thị màng não mô cầu trong khoang mũi họng, trong vụ dịch tỷ lệ này có thể lên đến 40 - 60%, đặc biệt ở những nơi có mật độ dân cư cao hay ở các doanh trại quân đội.
Tuổi dễ mắc bệnh nhất là trẻ em từ 6 tháng đến 3 tuổi hay thanh thiếu niên từ 14 - 20 tuổi và tỷ lệ thấp ở người trên 20 tuổi.
![]() Ảnh minh họa (nguồn Internet).
|
Các thể bệnh hay gặp
|
Vaccin không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và không có chỉ định rộng rãi do nguy cơ nhiễm bệnh chung không cao. Chỉ nên dùng cho khách đi du lịch đến vùng dịch hoặc nhóm người có nguy cơ cao (cắt lách, thiếu hụt bổ thể)... |
Sau khi não mô cầu xâm nhiễm vào cơ thể, thời gian ủ bệnh từ 1- 10 ngày, trung bình 5-7 ngày. Bệnh biểu hiện rất đa dạng với nhiều thể bệnh: viêm mũi họng, nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não, tổn thương ở nhiều cơ quan. Thường gặp các thể bệnh như sau:
Thể viêm mũi họng: bệnh nhân sốt 38-39o
C, kéo dài 1-7 ngày, đau đầu, rát họng, chảy nước mũi. Khám thấy sung huyết niêm mạc mũi, họng có khi có phủ một lớp mủ, hạch góc hàm sưng đau. Xét nghiệm thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng.
Thể nhiễm khuẩn huyết:
bệnh nhân sốt cao đột ngột 40 – 41oC, sốt liên tục hoặc sốt dao động mạnh, kèm theo những cơn rét run; đau đầu, đau mỏi cơ khớp toàn thân. Ban xuất huyết xuất hiện sớm khoảng 5 - 15 giờ sau khi phát bệnh hoặc muộn hơn sau vài ngày. Các ban xuất huyết thường xuất hiện trước tiên ở chi dưới và các điểm tỳ đè, gặp trong hầu hết mọi trường hợp. Xuất huyết có thể thay đổi, từ kích thước bằng đầu kim, đến mảng xuất huyết lớn, thậm chí từng vùng xuất huyết hoại tử da làm bong da, bì, tổ chức dưới sâu gọi là tử ban. Gan lách to.
Trường hợp sốc nhiễm khuẩn gặp trong thể nhiễm khuẩn huyết tối cấp, bệnh biểu hiện nặng ngay từ đầu với trụy tim mạch, xuất huyết ồ ạt do rối loạn vi tuần hoàn kết hợp với hội chứng đông máu rải rác nội mạch, tiên lượng nặng, tỷ lệ tử vong cao thường xảy ra trong 1 - 2 ngày đầu.
Thể viêm màng não: thường xảy ra tiên phát ở trẻ 6 tháng đến 10 tuổi. Triệu chứng lúc khởi bệnh khó phân biệt với biểu hiện nhiễm trùng toàn thân. Tuy nhiên ở nhiều bệnh nhân bên cạnh biểu hiện của nhiễm khuẩn huyết và tử ban bệnh nhân có biểu hiện tăng dần của các triệu chứng: đau đầu, nôn vọt, lú lẫn, hoảng loạn, co giật và hôn mê.
Các thể bệnh khác:
Viêm khớp, viêm màng ngoài tim, viêm phổi, viêm nắp thanh quản tối cấp, viêm đường tiểu.
Bệnh nhân bị viêm não mô cầu nếu không được điều trị kịp thời và đúng phác đồ có thể dẫn đến các biến chứng: Liệt các dây thần kinh: II, III, IV, VII, VIII dẫn đến mù, lác, điếc; Viêm cơ tim, màng ngoài tim, dày dính màng não, hội chứng não nước, suy hô hấp, trụy mạch....tử vong.
|
Hình ảnh não mô cầu dưới kính hiển vi.
|
Điều trị
Cephalosporin thế hệ III như ceftriaxone hoặc cefotaxime thường được sử dụng đầu tiên, đặc biệt là trên các bệnh nhi.
Penicillin G hiện vẫn còn là thuốc đặc hiệu cho các trường hợp khẳng định là mô não cầu và còn nhạy cảm. Khi bệnh nhân bị dị ứng với kháng sinh nhóm betalactam (các cephalosporin, penicillin…) có thể dùng chloramphenicol, tuy nhiên đã ghi nhận có nhiều trường hợp đã kháng chloramphenicol tại Việt Nam, ngoài ra thuốc thay thế có thể sử dụng là: meropenem.
Thời gian điều trị 7 - 10 ngày hoặc 4 - 5 ngày sau khi bệnh nhân hết sốt.
Đối với các trường hợp nặng hoặc thể tối cấp cần kết hợp với các biện pháp hồi sức: Hồi sức hô hấp, hồi sức tim mạch, phát hiện sớm hiện tượng đông máu rải rác trong lòng mạch để có hướng điều trị thích hợp.
Phòng ngừa
Phòng bệnh cần chú ý ngăn ngừa sự lây lan theo đường hô hấp. Khi có người bệnh được xác định trong một tập thể hay một gia đình cần xét nghiệm vi sinh cho tất cả người còn lại, cách ly người nhiễm bệnh để điều trị cho đến khi xét nghiệm không thấy vi khuẩn. Đối với tập thể có nguy cơ nhiễm bệnh cao, khi có dịch nên cho uống kháng sinh dự phòng. Nguy cơ lây bệnh cao nhất thường trong vòng tuần lễ đầu tiên tiếp xúc với người bệnh.
Chỉ dùng kháng sinh cho những người ở cùng gia đình bệnh nhân, người tiếp xúc gần gũi với bệnh, người ở nhà trẻ, doanh trại quân đội, nhân viên y tế trực tiếp chăm sóc người bệnh hoặc tiếp xúc với chất tiết đường hô hấp của người bệnh. Các thuốc dự phòng có thể dùng một trong các thuốc: rifampicin, ciprofloxacin, azithromycin.
Tiêm vacxin phòng ngừa nhiễm não mô cầu nhóm A, C, Y, W-135. Các vaccin này cũng có hiệu quả khống chế được dịch, nhiều nghiên cứu cho thấy một liều vaccin duy nhất có thể ngừa hiệu quả đến 90% nhiễm não mô cầu nhóm A hay C cho người lớn và trẻ trên 2 tuổi. Vacxin không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi và không có chỉ định rộng rãi do nguy cơ nhiễm bệnh chung không cao. Chỉ nên dùng cho khách đi du lịch đến vùng dịch hoặc nhóm người có nguy cơ cao (cắt lách, thiếu hụt bổ thể)...
Các biện pháp phòng bệnh khác đưa ra cho cộng đồng là phải duy trì nếp sống vệ sinh, giữ môi trường sống sạch sẽ, thông thoáng, nhiều ánh sáng, cần duy trì vệ sinh răng miệng, hầu, họng. Khi bị viêm đường hô hấp trên và có các biểu hiện của viêm màng não do não mô cầu cần đưa bệnh nhân đến ngay các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời. Nếu trong tập thể xuất hiện viêm màng não do não mô cầu được xác định, cần hạn chế tụ họp, mọi người thực hiện đeo khẩu trang phòng bệnh. Ngoài ra có thể tổ chức uống kháng sinh dự phòng khẩn cấp theo chỉ định của bác sĩ.
Aspirin từng được xem là thần dược trong phòng ngừa bệnh tim mạch, tuy nhiên hiện nay y học đã có những góc nhìn thay đổi về loại thuốc này. Dưới đây là 7 lầm tưởng phổ biến về thuốc Aspirin được các chuyên gia y tế khuyến cáo.
Bệnh ly thượng bì bọng nước (epidermolysis bullosa) là một tình trạng hiếm gặp gây ra hiện tượng da mỏng, dễ nổi mụn nước ở trẻ nhỏ. Bệnh lý này có thể gây khó chịu cho trẻ và có thể trở nặng nếu không được chăm sóc đúng cách. Cùng tìm hiểu qua bài viết sau!
Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa chính thức phê duyệt bốn loại vaccine COVID-19 cập nhật cho năm 2026–2027. Các loại vaccine mới này đặc biệt nhắm vào biến thể XFG đang lây lan nhanh chóng, nhằm tăng cường bảo vệ cho những nhóm đối tượng có nguy cơ cao.
Ăn quả óc chó vào buổi sáng giúp tối ưu hóa hiệu suất nhận thức và hỗ trợ bảo vệ sức khỏe não bộ.
Thời tiết hanh khô với độ ẩm không khí giảm sâu là "kẻ thù" lớn nhất của làn da khỏe mạnh vì nó làm suy yếu hàng rào bảo vệ da và giảm hoạt động tuyến bã nhờn. Nếu không chăm sóc đúng cách, da sẽ mất độ ẩm, dẫn đến khô căng, bong tróc, xỉn màu và dễ kích ứng. Bài viết này sẽ cung cấp những hướng dẫn chi tiết, từ làm sạch da, dưỡng ẩm sâu đến bảo vệ da trước các tác nhân môi trường, giúp bạn tự tin với làn da căng mịn suốt mùa khô.
Thói quen bật đèn ngủ với ánh sáng yếu khi đi ngủ không phải là hiếm, bởi nhiều người cho rằng ngủ trong bóng tối hoàn toàn tạo một cảm giác khó chịu và bất an. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng khi tiếp xúc với ánh sáng yếu trong lúc ngủ có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về tim mạch.
Tóc bạc sớm ngày càng trẻ hóa, khiến nhiều người tìm đến các bài thuốc dân gian, trong đó có hà thủ ô.
Hạ thân nhiệt là tình trạng xảy ra khi nhiệt độ trong cơ thể con người giảm xuống dưới 35 độ C. Đây là một tình trạng y tế cực kỳ nguy hiểm. Khi cơ thể bị hạ thân nhiệt, các hệ thống như tim mạch, hệ thần kinh và các cơ quan khác sẽ không thể hoạt động bình thường. Nếu không được chữa trị kịp thời sẽ có thể dẫn tới hệ tim mạch và hô hấp dừng hoạt động, nặng nhất là tử vong.