Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV - Bạn đã biết những gì?

Trong cuộc sống thường ngày, mỗi chúng ta ai cũng có nguy cơ bị phơi nhiễm HIV. Vậy khi biết mình có nguy cơ cao bị phơi nhiễm HIV sau một hành vi tình dục không an toàn hay sử dụng chung bơm kim tiêm với người nhiễm HIV... bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ ngay lập tức tìm kiếm sự can thiệp y tế hay ngồi yên một chỗ và cầu nguyện mình không phải là người nhiễm HIV tiếp theo trên thế giới? Câu trả lời sẽ có trong bài viết dưới đây của chúng tôi:

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV

Điều trị dự phòng là một biện pháp giúp bạn tránh khỏi sự lây nhiễm từ vi khuẩn, các loại nấm, virus hoặc ký sinh trùng. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, viết tắt là PEP nghĩa là bạn điều trị dự phòng sau khi bạn đã có nguy cơ phơi nhiễm bệnh tật từ vi khuẩn, nấm, virus...

Nếu bạn đã bị phơi nhiễm HIV (loại virus còn được biết đến với tên gọi khác là AIDS), giải pháp điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV ở đây sẽ là sử dụng 2 hoặc 3 loại thuốc giúp bạn giảm các nguy cơ bị nhiễm HIV.

Nếu được điều trị đúng cách, có tới 80% cơ hội làm virus ngừng phát triển. Nhưng bạn bắt buộc phải sử dụng thuốc đủ liều và có nhiều người đang điều trị phơi nhiễm HIV đã không làm được điều này. Chỉ có 57% những người sử dụng thuốc chống phơi nhiễm là hoàn thành liệu trình điều trị một cách đầy đủ. Điều này thường được lý giải bởi việc liệu trình điều trị dự phòng phơi nhiễm kéo dài trong 28 ngày và có thể kèm theo rất nhiều tác dụng phụ của thuốc. Ngoài ra các thuốc điều trị dự phòng chống phơi nhiễm cũng rất đắt đỏ.

Những ai cần phải điều trị dự phòng sau phơi nhiễm? 

Những người sau đây cần phải điều trị dự phòng:

- Những người có thể đã bị phơi nhiễm HIV qua quan hệ tình dục không an toàn.

- Những người nghiện ma túy gần đây sử dụng chung bơm kim tiêm hoặc những vật dụng liên quan với những người nghiện ma túy khác.

- Nhân viên y tế, những người có thể đã bị phơi nhiễm HIV trong quá trình làm việc.

 

Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm HIV chỉ là một giải pháp khẩn cấp để tránh bị nhiễm HIV và nó hoàn toàn không thể thay thế được các biện pháp phòng chống lây nhiễm HIV như tình dục an toàn hoặc sử dụng bơm kim tiêm vô khuẩn.

Nếu bạn có nguy cơ thường xuyên bị phơi nhiễm HIV - qua bạn tình hoặc qua sử dụng chung bơm kim tiêm, hãy thảo luận với bác sỹ của mình về một liệu trình điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (viết tắt PreP). PEP (điều trị dự phòng sau phơi nhiễm) sẽ phải sử dụng một liều lượng thuốc cao hơn hẳn so với PreP (điều trị dự phòng trước phơi nhiễm).

Thời gian điều trị  

Bạn phải bắt đầu điều trị dự phòng phơi nhiễm HIV sớm trong vòng 72 giờ sau khi có hành vi dẫn đến nguy cơ bị nhiễm HIV. Nếu bạn nghĩ rằng mình có thể đã bị phơi nhiễm HIV, hãy tìm kiếm sự can thiệp y tế sớm nhất có thể.

Các bước dự phòng sau khi phơi nhiễm HIV/AIDS:

Theo Cục phòng chống HIV/AIDS - Bộ Y tế, phơi nhiễm với HIV được chia ra làm 2 loại là phơi nhiễm nghề nghiệp (đối với những người làm nghề y, tai nạn nghề nghiệp trong công an, quân đội,... khi phải trấn áp tội phạm) và ngoài môi trường nghề nghiệp (tại cộng đồng, trường hợp phơi nhiễm với máu, dịch cơ thể có khả năng làm lây nhiễm HIV không liên quan đến nghề nghiệp như quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm,..).

Xử lý khi phơi nhiễm HIV do nghề nghiệp:

 - Xử lý vết thương tại chỗ bằng cách rửa ngay vết thương dưới vòi nước, nếu vết thương chảy máu, để vết thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương. Rửa kỹ bằng xà phòng và nước sạch. Nếu phơi nhiễm qua niêm mạc mắt phải rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút. Nếu phơi nhiễm qua mũi, miệng cũng phải rửa mũi hoặc xúc miệng bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần.

-  Báo cáo người phụ trách và làm biên bản nêu rõ ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy cơ của phơi nhiễm. Lấy chữ ký của người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách. Việc này cần làm ngay để phục vụ làm các chế độ sau này nếu cần thiết.

- Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm theo mức độ tổn thương và diện tích tiếp xúc. Dựa trên mức độ tổn thương của da, độ sâu, có chảy máu hay không v.v… để xác định phơi nhiễm đó có nguy cơ hay không có nguy cơ giúp việc quyết định điều trị ARV.

- Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm để xem xét nguồn phơi nhiễm có nhiễm HIV hay không.

- Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm thông qua tư vấn xét nghiệm HIV cho người bị phơi nhiễm.

-  Tư vấn cho người bị phơi nhiễm về các nguy cơ nhiễm HIV và viêm gan B, C, điều trị dự phòng ARV…

- Điều trị dự phòng bằng thuốc ARV.

Xử lý khi phơi nhiễm HIV ngoài môi trường nghề nghiệp:

Do tình huống phơi nhiễm HIV ngoài môi trường nghề nghiệp rất đa dạng và nguy cơ rất khác nhau. Do vậy người bị phơi nhiễm HIV ngoài cộng đồng cần đến ngay các cơ sở tư vấn HIV/AIDS để:

- Đánh giá về tình trạng nhiễm HIV; phạm vi, tần suất và thời gian có nguy cơ phơi nhiễm; nhiễm HIV của nguồn lây nhiễm.

- Tư vấn trước xét nghiệm HIV.

- Tiến hành các xét nghiệm ban đầu như: HIV, viêm gan vi rút B, C; xét nghiệm đánh giá tình trạng mang thai và nếu có thể xét nghiệm tình trạng HIV của người gây phơi nhiễm cho người gây phơi nhiễm nếu chưa biết tình trạng nhiễm HIV và tiến hành điều trị dự phòng bằng thuốc ARV nếu thấy cần thiết.

Sử dụng thuốc thế nào cho đúng?

Chúng ta sử dụng 2 hoặc 3 loại thuốc được gọi là thuốc kháng retro virus (anti - retrovirals). Phương pháp điều trị này được gọi là liệu pháp kháng retro virus (anti - retroviral therapy), hoặc là ART. Các loại thuốc này giúp kiểm soát sự nhân lên của virus HIV.

Bạn sẽ sử dụng thuốc 1-2 lần/ngày và liên tục trong vòng 28 ngày.

Đối với thuốc ART cần chú ý:

- Chỉ điều trị ARV khi có chỉ định của thày thuốc sau khi đã được tư vấn về nguy cơ lây nhiễm HIV và có nguy cơ lây nhiễm HIV. Không tự mua thuốc để dùng theo người không có chuyên môn mách bảo.

- Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm nên được bắt đầu càng sớm càng tốt cho tất cả đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HIV, tối ưu nhất trong vòng 72 giờ.

- Sử dụng phác đồ ba thuốc uống hàng ngày và điều trị dự phòng 28 ngày cho tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ. Ngừng thuốc khi xác định nguồn phơi nhiễm âm tính với HIV.

- Theo dõi trong và sau điều trị như theo dõi và xử trí tác dụng phụ của ARV; tư vấn và hỗ trợ tâm lý cũng như xét nghiệm lại HIV sau 3 tháng.v.v..

- Không điều trị dự phòng bằng ARV sau phơi nhiễm cho các trường hợp:  Người bị phơi nhiễm đã nhiễm HIV;  Nguồn gây phơi nhiễm được khẳng định là HIV âm tính; Phơi nhiễm với các dịch cơ thể không có nguy cơ lây nhiễm đáng kể như nước mắt, dịch nước bọt không dính máu, nước tiểu và mồ hôi và cũng không điều trị ARV với người phơi nhiễm liên tục với HIV như quan hệ tình dục thường xuyên với người nhiễm HIV hoặc gái mại dâm nhưng hiếm khi sử dụng bao cao su; người nghiện chích ma tuý thường xuyên sử dụng chung bơm kim tiêm.

Tác dụng phụ

Bạn có thể buồn nôn và mệt mỏi khi điều trị dự phòng sau phơi nhiễm. Các thuốc cũng có thể gây nôn mửa và tiêu chảy. Trong một số rất ít các trường hợp, chúng còn có thể gây nên các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm cả tác dụng phụ liên quan đến gan.

Khả năng kháng thuốc cũng hoàn toàn có thể xảy ra, virus có thể kháng các loại thuốc chống phơi nhiễm rất mạnh.

Tham khảo thêm thông tin về bài viết   Những dấu hiệu cho thấy bạn có thể đã nhiễm HIV

Theo WebMD, Cục phòng chống HIV/AIDS
Bình luận
Tin mới
  • 25/10/2026

    Ăn quả mọng mỗi ngày để thúc đẩy quá trình lão hóa lành mạnh

    Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!

  • 25/10/2026

    3 loại trái cây “ngậm” nhiều hóa chất nhất và cách xử lý trước khi ăn

    Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.

  • 24/10/2026

    Vắc xin EV71 giải pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng hiệu quả cho trẻ

    Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.

  • 24/10/2026

    Rối loạn kinh nguyệt ở người trẻ:

    Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.

  • 23/10/2026

    Tại sao ăn ít mà bụng vẫn to?

    Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.

  • 23/10/2026

    Phòng ngừa dị ứng thức ăn cho trẻ khi bắt đầu ăn dặm

    Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.

  • 23/10/2026

    Tăng huyết áp có nên ăn cá ngừ?

    Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.

  • 22/10/2026

    5 cách loại bỏ vi nhựa khỏi cơ thể bạn

    Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.

Xem thêm