Các loại viêm tĩnh mạch
Tùy thuộc vào đặc điểm tĩnh mạch bị tổn thương, bệnh lý viêm tĩnh mạch chia làm hai nhóm: viêm tĩnh mạch nông và viêm tĩnh mạch sâu.

Viêm tĩnh mạch nông: Tĩnh mạch nông có kích thước nhỏ, nằm nông dưới da và có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tình trạng viêm tĩnh mạch thường có nguyên nhân là do yếu tố bên ngoài gây tác động vào, như đặt ống thông tĩnh mạch để truyền dịch hay truyền thuốc, các loại dịch ưu trương. Viêm tĩnh mạch nông có thể tự thuyên giảm khi ngưng tác động mà không cần điều trị đặc hiệu gì.
Viêm tĩnh mạch sâu: Tĩnh mạch sâu có kích thước lớn hơn, nằm sâu bên trong khối cơ chân, tay và có van nhằm giữ cho máu chảy một chiều trở về tim. Viêm tĩnh mạch sâu thường do có sự hiện diện của cục máu đông trong lòng tĩnh mạch và tình trạng này được gọi là viêm tắc tĩnh mạch. Khi đó, các cục máu đông có nguy cơ di chuyển về phổi, gây hậu quả khó lường nếu không can thiệp kịp thời. Điều quan trọng là phải nhận biết các yếu tố nguy cơ, triệu chứng của bệnh để phát hiện sớm, điều trị sớm.
Các triệu chứng viêm tĩnh mạch
Bệnh viêm tĩnh mạch chân thường gặp hơn so với bệnh viêm tĩnh mạch tay, bởi lẽ tĩnh mạch chân nằm xa trung tâm hơn, còn chịu sức nặng cơ thể và cả trọng lực. Dù cho có viêm tĩnh mạch nông hay sâu, người bệnh đều sẽ tự nhận thấy cảm giác đau trong vùng chi bị tổn thương, hạn chế vận động, vùng da xuất hiện sưng tấy, phù, sờ thấy ấm nóng hơn. Viêm tĩnh mạch nông thường khởi phát chậm từ một vùng da đỏ, mềm dọc theo tĩnh mạch trên da. Vùng da này có thể có cảm giác ấm, đau, sưng và ngứa, cảm giác như bỏng rát. Các triệu chứng nặng hơn khi để chân thấp đặc biệt khi bước chân xuống giường buổi sáng. Có thể kèm theo sốt nhẹ. Nếu có nhiễm trùng đi kèm thì triệu chứng có thể là sưng, nóng, đỏ, đau, sốt hay có tổn thương da. Viêm tĩnh mạch sâu có triệu chứng giống viêm tĩnh mạch nông nhưng một số người không có triệu chứng. Một số người bị đau và phù toàn bộ chi dưới. Cơn đau dữ dội hơn nhưng khó xác định chính xác vị trí. Nếu viêm tắc huyết khối tĩnh mạch sâu ở bắp chân hay đùi, cơn đau có thể dễ nhận thấy hơn khi đi bộ hoặc gập chân. Triệu chứng toàn thân thường đi kèm trong các trường hợp viêm tĩnh mạch sâu. Người bệnh sốt nhẹ âm ỉ, mệt mỏi hay hồi hộp, tim nhanh, khó thở, ho ra máu nếu huyết khối di chuyển lên phổi gây thuyên tắc phổi, nhồi máu phổi.
Nguyên nhân viêm tĩnh mạch
Viêm tĩnh mạch phần lớn là do những tác động từ bên ngoài, chấn thương hoặc khi niêm mạc mạch máu bị kích thích. Trong trường hợp viêm tĩnh mạch nông, nguyên nhân có thể do thủ thuật đặt ống thông tĩnh mạch, vị trí luồn kim bị nhiễm trùng, tiêm thuốc có tính kích ứng cao, dịch truyền có nồng độ cao vào tĩnh mạch,... Trong trường hợp huyết khối tĩnh mạch sâu, nguyên nhân còn có thể là hệ quả của các bệnh lý khác như chấn thương tĩnh mạch sâu do phẫu thuật, gãy xương. Nếu tình trạng thiếu vận động kéo dài, tịnh dưỡng lâu trên giường sau phẫu thuật hoặc ngồi sau chuyến bay dài, tư thế đứng lâu liên tục nhiều giờ khiến hệ thống tĩnh mạch bị dãn ra, lưu lượng máu trì trệ cũng tạo điều kiện hình thành huyết khối gây viêm tắc tĩnh mạch. Ngoài ra, ở một số người, máu cũng có khả năng dễ đông máu hơn bình thường do các bệnh lý di truyền, mất cân bằng giữa các yếu tố trong hệ thống đông cầm máu hay có thể là do các loại bệnh lý ung thư, rối loạn mô liên kết, bệnh tự miễn, dùng thuốc tránh thai hay các liệu pháp hormone, mang thai, thừa cân hoặc béo phì, hút thuốc lá, nghiện rượu,...
Cách chẩn đoán và điều trị viêm tĩnh mạch
Chẩn đoán viêm tĩnh mạch nông thường đơn giản, dễ nhận biết khi nhận thấy các nguồn tác động. Việc điều trị chỉ cần tháo bỏ ống thông tĩnh mạch, vệ sinh vết thương nếu nguyên nhân là do đặt kim tĩnh mạch; lập đường truyền tĩnh mạch trung tâm khi phải truyền các dung dịch ưu trương, dịch dinh dưỡng, sử dụng thuốc kháng viêm,... Từ đó, tình trạng viêm, sưng đỏ sẽ mau chóng cải thiện dần. Nếu nghi ngờ nhiễm trùng, chảy dịch mủ, bệnh nhân có thể cần được chỉ định kháng sinh vài ngày. Đối với viêm tĩnh mạch sâu, ngoài những triệu chứng cơ năng, các yếu tố nguy cơ, bệnh có thể phải dựa vào xét nghiệm, hình ảnh học để chẩn đoán. Bác sĩ sẽ chỉ định siêu âm mạch máu bên chi bị ảnh hưởng và vận tốc sóng âm giúp đánh giá tốc độ dòng chảy, có bị tắc nghẽn hay không; đôi khi có thể quan sát thấy huyết khối, mô tả được kích thước, vị trí qua đầu dò siêu âm. Nếu không loại trừ được khả năng thuyên tắc phổi, nhất là khi bệnh nhân có các triệu chứng như khó thở, suy hô hấp, rối loạn huyết động, hình ảnh chụp cắt lớp vi tính lồng ngực có cản quang cần nhanh chóng thực hiện để kiểm tra sự hiện diện của cục máu đông trong động mạch phổi. Việc điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu luôn phức tạp và phác đồ kéo dài hơn so với bệnh lý trên tĩnh mạch nông. Liệu trình thuốc chống đông máu liên tục trong ba tháng hoặc sáu tháng và đôi khi suốt đời nếu lý do của sự hình thành huyết khối không giải quyết được trọn vẹn. Đối với các bệnh nhân có chống chỉ định với thuốc kháng đông hay gặp phải các biến chứng do thuốc, các trường hợp này cần can thiệp đặt lưới lọc trên tĩnh mạch chủ nhằm ngăn chặn cục máu đông từ chi dưới di chuyển về phổi. Những bệnh nhân có biến chứng thuyên tắc phổi cũng được chỉ định thuốc kháng đông lâu dài. Tuy nhiên, trong các tình huống cấp cứu, nguy kịch tính mạng, thuốc tiêu sợi huyết nhằm làm tan cục máu đông cần chỉ định tức thì hoặc các thủ thuật can thiệp nội mạch nhanh chóng lấy cục máu đông ra khỏi cơ thể.
Viêm tĩnh mạch có nguy hiểm không?
Viêm tĩnh mạch nông thường khu trú và không dẫn đến biến chứng nghiêm trọng nếu ngăn chặn ngay các yếu tố gây kích thích. Nếu để chậm trễ, viêm tĩnh mạch nông vô trùng sẽ dẫn đến viêm nhiễm trùng và khi tình trạng nhiễm trùng lan ra xung quanh sẽ tạo vết thương trên da hoặc thậm chí đi vào máu gây nhiễm trùng máu. Đối với viêm tĩnh mạch sâu, ngoài những tổn thương do viêm nhiễm tại chỗ, biến chứng đáng e ngại là khi cục máu đông theo mạch máu di chuyển lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi. Máu đến phổi không được sẽ dẫn đến nhồi máu phổi. Nếu thể tích vùng phổi bị hoại tử lớn, máu không được nhận oxy từ bên ngoài vào, bệnh nhân dễ dẫn đến suy hô hấp, trụy tuần hoàn và tử vong. Chính vì vậy, huyết khối tĩnh mạch sâu gây biến chứng thuyên tắc phổi là một trường hợp cấp cứu nội khoa cần được điều trị ngay lập tức.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 10 hiểu lầm về bệnh giãn tĩnh mạch
Bổ sung đủ vitamin A không chỉ giúp "thắp sáng" đôi mắt mà còn thiết lập một hàng rào miễn dịch vững chắc cho toàn bộ cơ thể.
Theo thống kê của Phân hội tăng huyết áp Việt Nam, số người bị tăng huyết áp gia tăng nhanh và ngày càng trẻ hóa, cứ 4 người trên 25 tuổi thì có 1 người bị huyết áp cao, tỷ lệ 25%, một con số đáng báo động.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Prostaglandin là các hợp chất giống hormone - “thủ phạm” gây đau bụng kinh cho phái nữ. Ngoài ra, prostaglandin cũng gây ra nhiều ảnh hưởng khác đối với cơ thể, cùng tìm hiểu về hợp chất thú vị này qua bài viết sau!
Yến mạch là lựa chọn giàu chất xơ cho bữa sáng nhưng cần ăn đúng cách và khẩu phần phù hợp để phát huy lợi ích.
Những thói quen buổi sáng có thể quyết định rất lớn đến sức khỏe và năng suất làm việc của chúng ta trong ngày. Một số thói quen này tưởng chừng vô hại, nhưng nếu không được thay đổi, chúng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sức khỏe về lâu dài. Thay đổi những thói quen buổi sáng phổ biến này có thể giúp bạn giữ được sức khỏe tốt hơn và năng suất cao hơn trong suốt cả ngày. Cùng tìm hiểu về 10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe qua bài viết sau đây!
Viêm đại tràng giả mạc là bệnh lý có thể xuất hiện sau khi sử dụng kháng sinh, đặc biệt khi dùng kéo dài hoặc dùng nhiều loại kháng sinh khác nhau. Bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng như tiêu chảy kéo dài, đau bụng, sốt… và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
Mùa hè mang đến cơ hội tuyệt vời để chúng ta khởi động những thói quen tích cực, giải phóng năng lượng và nâng cao thể chất. Tuy nhiên, việc vận động dưới nền nhiệt độ cao lại là một thử thách không nhỏ đối với hệ thống điều hòa thân nhiệt tự nhiên của cơ thể. Nếu không biết cách phòng ngừa và chuẩn bị chu đáo, người tập rất dễ đối mặt với các nguy cơ mất nước, kiệt sức hay thậm chí là sốc nhiệt nguy hiểm. Nhằm giúp bạn làm chủ lộ trình rèn luyện một cách an toàn và bền bỉ trong những ngày oi bức, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp bạn có một chế độ tập luyện hiệu quả