Theo PGS-TS Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trưởng Văn phòng Tiêm chủng mở rộng quốc gia, sau tiêm vaccine việc cơ thể sẽ tiếp xúc với một kháng nguyên lạ.
Phản ứng bình thường của cơ thể là huy động hệ miễn dịch chống lại và tiêu diệt kháng nguyên lạ đó, đồng thời tạo trí nhớ miễn dịch, hay còn gọi là kháng thể để chống lại những đợt tấn công tiếp theo của kháng nguyên. Những phản ứng miễn dịch đó biểu hiện ra bên ngoài như đau tại chỗ tiêm, sốt, đau người, đau mệt mỏi… ở mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, tùy cơ địa mỗi người phản ứng sau tiêm vaccine là khác nhau. Không phải ai sau tiêm cũng có biểu hiện phản ứng và điều này không phản ánh việc tạo miễn dịch của vaccine. Để đánh giá miễn dịch sau tiêm chính xác cần xét nghiệm máu định lượng kháng thể.
“Thực tế vaccine là một trong những sinh phẩm an toàn nhất. Các vaccine trước khi được đưa vào sử dụng đều được đánh giá tính an toàn và hiệu quả, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của Tổ chức Y tế thế giới và Bộ Y tế. Còn việc cơ thể phản ứng hay không phản ứng chứng minh người đó có hay không có kháng thể thì chưa chính xác”, bà Hồng nói.

PGS - TS Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Trưởng Văn phòng Tiêm chủng mở rộng quốc gia.
Chung quan điểm, PGS. TS Trần Đắc Phu, nguyên Cục trưởng Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế), cố vấn Trung tâm Đáp ứng khẩn cấp sự kiện y tế công cộng Việt Nam nêu rõ, không phải cứ tiêm xong vaccine COVID-19 gặp phản ứng thì mới chứng minh cơ thể một người đã sản sinh ra kháng thể chống lại virus.
Về cơ bản có hay không sinh kháng thể phụ thuộc từng người, và người đó phải được xét nghiệm mới biết được.
“Không phải ai khi tiêm vaccine đều sinh kháng thể ngay, kể cả người phản ứng sốt hay không sốt. Cũng không thể khẳng định người bị sốt sau khi tiêm sẽ có kháng thể hoặc nhiều kháng thể hơn người không phản ứng gì. Việc này tuỳ thuộc vào thể trạng của từng người. Thậm chí có trường hợp người gặp phản ứng nhưng không sinh nhiều kháng thể bằng người chẳng có phản ứng gì”, ông Phu nói.
Theo BS Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm - Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng I TP.HCM, việc sinh miễn dịch hay không sau tiêm vaccine COVID-19 là do miễn dịch, cơ địa của mỗi người. Việc cơ thể phản ứng không liên quan hay chứng minh rằng người đó có kháng thể chống lại virus.
“Giống như việc có vaccine sau khi tiêm tạo miễn dịch hơn 90% nhưng có vaccine thì chỉ được trên 70% hoặc trên 80%. Vì vậy nói sốt, đau người hay sưng chỗ tiêm là sinh miễn dịch thì không dựa căn cứ khoa học nào cả. Thậm chí có người tiêm xong còn không thể sinh miễn dịch dù cơ thể phản ứng”, BS Khanh nói.
Còn theo BS CKII Nguyễn Hồng Hà, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Phó Chủ tịch Hội Truyền nhiễm Việt Nam, phản ứng của mỗi người đối với tác nhân bên ngoài đưa vào đều khác nhau. Người phản ứng mạnh, người phản ứng ít, người phản ứng nặng, người phản ứng nhẹ thậm chí không phản ứng. Cho nên, tuỳ vào mỗi người mà sẽ sinh được tỷ lệ kháng thể nhất định sau khi tiêm vaccine chứ không phụ thuộc vào việc người đó phản ứng thế nào khi tiêm vaccine.
“Nhiều người sau tiêm không thể có kháng thể 100%. Điều này phụ thuộc vào hệ miễn dịch của mỗi người, người nào miễn dịch tốt thì sản sinh nhiều kháng thể. Còn người yế khó đạt được miễn dịch tốt”, BS Hà nói.

BS Trương Hữu Khanh, Trưởng khoa Nhiễm - Thần kinh, Bệnh viện Nhi đồng I TP.HCM.
Nhiều chuyên gia về dịch tễ cũng cho rằng, không thể dựa vào phản ứng của cơ thể trước vaccine mà cho rằng người đó có hay không có kháng thể. Các chuyên gia đều đồng tình, việc sinh kháng thể hay không, kháng thể nhiều hay ít sau khi tiêm vaccine tuỳ thuộc vào cơ địa của mỗi người chứ không liên quan tới phản ứng của người đó với vaccine.
Vì sao phải tiêm mũi vaccine nhắc lại?
Trước thắc mắc của nhiều người về việc tại sao phải tiêm mũi nhắc lại (mũi 2) dù mũi 1 vaccine COVID-19 đã tạo kháng thể, BS Trương Hữu Khanh cho hay, khi nghiên cứu vaccine nhà sản xuất đều tính đến là mỗi mũi sẽ có nồng độ bao nhiêu thì hợp lý, tiêm số mũi nhiều hay ít sẽ hiệu quả và khoảng cách mỗi mũi là bao nhiêu. Vaccine COVID-19 cũng nằm trong nguyên tắc này.
Tuỳ vào nghiên cứu của loại vaccine đó thế nào. Có loại chỉ cần tiêm 1 mũi đã đạt miễn dịch mong muốn nhưng có loại phải 2, thậm chí là 3 mũi mới hiệu quả. Ngoài ra còn tuỳ thuộc vào loại vaccine, nghĩa là có loại sau khi tiêm xong đạt 80% miễn dịch nhưng có loại đạt tới 90%. Hoặc loại vaccine tiêm 1 mũi đạt 70% nhưng có loại tiêm 1 mũi chỉ đạt 30% nên phải tiêm mũi 2.
"Hiểu nôm na là tiêm mũi 1 vẫn có thể có hoặc không sinh kháng thể, hoặc nếu sinh kháng thể thì cũng không đạt hiệu quả mong muốn nên chúng ta phải tiêm mũi 2 để bổ sung thêm và củng cố lượng kháng thể đó sao cho cơ thể đạt được hiệu quả cao nhất chống lại virus. Vì vậy, việc tiêm mũi 2 hay tiêm nhắc lại vaccine là điều rất quan trọng để xây dựng hệ thống miễn dịch tốt nhất”, BS Khanh nhấn mạnh.
PGS. TS Dương Thị Hồng cho biết, mỗi vaccine trước khi đưa vào sử dụng đều được nghiên cứu qua quá trình và được đánh giá khoa học, nhằm lựa chọn được lịch tiêm chủng tạo miễn dịch phòng bệnh hiệu quả nhất.
Đối với các vaccine phải tiêm nhiều liều, việc tiêm chủng không đủ mũi, hầu hết không có tác dụng phòng bệnh, dù cơ thể vẫn đáp ứng miễn dịch nhưng kháng thể không đủ để phòng bệnh trong trường hợp cơ thể phải tiếp xúc với lượng virus lớn. Vì vậy, để phòng bệnh COVID-19 theo các hướng dẫn của các nhà sản xuất vaccine hiện nay thì cần tiêm đầy đủ 2 mũi mới đạt hiệu quả như mong muốn.

Tiêm mũi 2 hoặc nhắc lại vaccine là rất quan trọng để xây dựng hệ thống miễn dịch tốt cho cơ thể.
Theo PGS. TS Trần Đắc Phu, việc tiêm mũi 2 vaccine giúp kháng thể “nhớ lại” virus để có phản ứng chống lại virus đó.
“Có vaccine chỉ 1 mũi, nhưng nhiều loại vaccine tới 2, 3 mũi thậm chí nhắc lại nhiều hơn. Như vaccine COVID-19 hiện nay phải tiêm 2 mũi. Điều này nằm trong tính toán, nghiên cứu của các nhà khoa học. Nó giống như virus là kẻ trộm và vaccine là tấm lá chắn bảo vệ. Khi virus tấn công một lần thì lá chắn vẫn chưa thể bảo vệ tuyệt đối, nhưng khi gặp virus đó nhiều lần, cơ thể quen với việc phải chống lại virus thì sẽ có kháng thể tốt hơn. Tuỳ vào mỗi loại vaccine mà chúng ta phải tiêm mấy lần mới 'nhớ' được”, ông Phu nói.
Các chuyên gia truyền nhiễm khác cũng khẳng định, phải tiêm nhắc lại vaccine vì mũi ban đầu được coi là mũi tiêm sinh kháng thể, còn mũi 2 là để củng cố hệ miễn dịch khoẻ hơn. Tiêm mũi 2 kích thích các tế bào có “trí nhớ miễn dịch”, từ đó kháng thể chống lại virus trong mũi nhắc lại được tăng lên và bền vững hơn.
Vì vậy mà các nhà khoa học phải thử nghiệm rất nhiều lần qua các giai đoạn mới cho ra được loại vaccine hoàn chỉnh. Các chuyên gia đều tính đến việc tiêm bao nhiêu mũi và mỗi mũi phải cách nhau bao nhiêu lâu thì mới đạt được tỷ lệ miễn dịch cao nhất.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Khả năng miễn dịch kéo dài bao lâu sau khi tiêm vaccine ngừa COVID-19?
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.