Rượu (alcohol) là khái niệm chung dùng để chỉ ethanol hoặc ethyl alcohol, một chất hóa học có thể tìm thấy trong bia, rượu vang, rượu nặng cũng như trong một số loại thuốc, nước súc miệng, các sản phẩm gia dụng và một số loại tinh dầu chiết xuất từ các loại cây. Rượu cũng được sản xuất ra trong quá trình lên men đường và tinh bột.
Một số loại đồ uống có cồn chính và hàm lượng rượu/cồn có trong đó bao gồm:
Theo Viện Nghiên cứu về nghiện rượu và lạm dụng rượu bia Hoa Kỳ (National Institute on Alcohol Abuse and Alcoholism), một ly rượu tiêu chuẩn tại Mỹ có chứa 14g rượu nguyên chất. Thông tường, lượng rượu nguyên chất này cũng tương đương với lượng rượu có trong:
Hướng dẫn về chế độ ăn cho người Mỹ năm 2010 (Dietary Guidelines for Americans 2010) định nghĩa rằng, uống rượu với lượng vừa phải (moderate drinking) là 1 ly/ngày với phụ nữ và 2 ly/ngày với nam giới. Uống nhiều rượu (heavy drinking) được định nghĩa là uống trên 3 ly trong bất cứ ngày nào và hơn 7 ly/tuần với nữ và hơn 4 ly/ngày với nam hoặc 14 ly/tuần với nam giới.
Những bằng chứng cho thấy uống rượu là nguyên nhân gây ung thư?
Dựa trên việc tổng kết các nghiên cứu, có một bằng chứng mạnh mẽ cho thấy rằng có một mối liên quan chặt chẽ giữa việc uống rượu và nhiều loại ung thư khác nhau. Trong báo cáo về các tác nhân gây ung thư, Chương trình Độc chất học Quốc gia tại Mỹ của Bộ Y tế và Nhân Sinh Hoa Kỳ đã liệt việc tiêu thụ đồ uống có cồn là một trong số các tác nhân gây ung thư ở người. Bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy rằng, một người tiêu thụ lượng rượu càng nhiều thì nguy cơ mắc các bệnh ung thư liên quan đến rượu lại càng cao. Dựa trên dữ liệu từ năm 2009, có khoảng 3.5% số ca tử vong vì ung thư tại Mỹ (tương đương 19.500) có liên quan đến rượu.
Một số bằng chứng đã cho thấy rõ ràng mối liên quan giữa tiêu thụ rượu và sự phát triển một số loại ung thư sau:
Ung thư đầu và cổ: Tiêu thụ rượu là một yếu tố nguy cơ chính gây ra một số loại ung thư vùng đầu và cổ, đặc biệt là ung thư khoang miệng (trừ ung thư tại môi), ung thư vòm họng và ung thư thanh quản. Những người tiêu thụ nhiều hơn 50g rượu/ngày (khoảng hơn 3.5 ly/ngày) có nguy cơ mắc phải các loại ung thư ở trên cao hơn ít nhất khoảng 2-3 lần so với những người không uống rượu. Ngoài ra, nguy cơ ung thư của những người tiêu thụ lượng rượu tương tự đi kèm với hút thuốc lá cũng sẽ cao hơn
Ung thư thực quản: Tiêu thụ rượu là yếu tố nguy cơ chính cho một loại ung thư thực quản đặc biệt có tên là ung thư biểu mô tế bào vảy tại thực quản. Ngoài ra, những người thiếu enzyme chuyển hóa rượu (do di truyền) cũng sẽ bị tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản liên quan đến rượu.
Ung thư gan: Tiêu thụ rượu là một yếu tố nguy cơ độc lập và là nguyên nhân chính gây ung thư gan (ung thư biểu mô tế bào gan). Nhiễm virus viêm gan B và viêm gan C mãn tính cũng là một yếu tố nguy cơ chính khác gây ung thư gan.
Ung thư vú: Hơn 100 nghiên cứu dịch tễ học đã xem xét mối liên quan giữa tiêu thụ rượu và nguy cơ ung thư vú ở nữ giới. Những nghiên cứu này đã thấy rằng, việc tăng nguy cơ ung thư vú có liên quan với việc tăng tiêu thụ rượu. Một phân tích tổng hợp kết quả của 53 nghiên cứu (bao gồm hơn 58.000 phụ nữ bị ung thư vú) đã chứng minh rằng, phụ nữ uống nhiều hơn 45g rượu/ngày (tương đương khoảng 3 ly) có nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú cao hơn gấp khoảng 1.5 lần so với những phụ nữ không uống rượu. Nguy cơ ung thư vú sẽ tăng cao với tất cả các trường hợp tăng tiêu thụ rượu bia: cứ mỗi 10g rượu tiêu thụ một ngày (ít hơn 1 ly), thì sẽ làm tăng khoảng 7% nguy cơ ung thư vú.
Nghiên cứu The Million Women Study tại Anh bao gồm hơn 28.000 phụ nữ bị ung thư vú cho ra một kết quả cao hơn một chút: cứ mỗi 10g rượu tiêu thụ một ngày sẽ liên quan với việc tăng 12% nguy cơ ung thư vú.
Ung thư đại trực tràng: Tiêu thụ rượu sẽ làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng. Một nghiên cứu tổng hợp 57 nghiên cứu thuần tập và bệnh chứng xem xét mối liên quan giữa việc tiêu thụ rượu và ung thư đại trực tràng chỉ ra rằng: những người thường xuyên tiêu thụ trên 50g rượu/ngày (3.5 ly) sẽ tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng lên khoảng 1.5 lần so với những người không hoặc ít uống rượu. Với mỗi 10g rượu tiêu thụ một ngày, nguy cơ ung thư đại trực tràng sẽ tăng lên khoảng 7%.
Rượu làm tăng nguy cơ ung thư như thế nào?
Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rất nhiều cách mà rượu làm tăng nguy cơ ung thư:
Uống rượu vang đỏ có thể giúp dự phòng ung thư hay không?
Các nhà nghiên cứu vẫn đang tiến thành các nghiên cứu sử dụng protein tinh khiết, tế bào cơ thể người và động vật thí nghiệm và thấy rằng, có một số chất trong rượu vang đỏ, ví dụ như resveratrol có tác dụng chống ung thư. Nho, mâm xôi, đậu phộng và một số loại thực vật khác cũng có chứa resveratrol. Tuy nhiên, thử nghiệm lâm sàng trên người chưa cung cấp bằng chứng cho thấy resveratrol có hiệu quả trong việc dự phòng hoặc điều trị ung thư. Có rất ít nghiên cứu dịch tễ học xem xét mối liên quan giữa việc tiêu thụ rượu vang đỏ và nguy cơ ung thư ở người.
Nguy cơ ung thư sau khi ngừng uống rượu có giảm đi hay không?
Đa số các nghiên cứu đã xem xét xem liệu nguy cơ ung thư có giảm đi sau khi một người ngừng uống rượu hay không, và đa số cũng tập trung vào các loại ung thư vùng đầu cổ và ung thư thực quản. Nhìn chung, những nghiên cứu này đã cho thấy ngừng tiêu thụ rượu không liên quan đến việc giảm ngay lập tức nguy cơ ung thư. Thay vào đó, có thể mất tới vài năm thì nguy cơ ung thư mới có thể quay về mức tương đương với những người chưa bao giờ uống rượu.
Ví dụ, một nghiên cứu tổng hợp 13 nghiên cứu bệnh chứng thấy rằng, nguy cơ ung thư khoang miệng và thanh quản có liên quan đến rượu sẽ không giảm xuống sau khi ngừng tiêu thụ rượu 10 năm. Kể cả sau 16 năm ngừng uống rượu, nguy cơ ung thư của những người đã từng uống rượu vẫn cao hơn so với những người chưa bao giờ uống rượu.
Trong một số nghiên cứu, nguy cơ ung thư thực quản sẽ giảm dần xuống sau khi ngừng tiêu thụ rượu. Một phân tích trên 5 nghiên cứu bệnh chứng chỉ ra rằng, nguy cơ ung thư thực quản sẽ không bao giờ trở về mức tương đương với những người chưa bao giờ uống rượu trong ít nhất 15 năm ngừng uống rượu.
Trong khi hóa trị điều trị ung thư, uống rượu có an toàn hay không?
Cũng như hầu hết các nghiên cứu khác liên quan đến quá trình điều trị ung thư của từng cá nhân, tốt nhất, người bệnh nên hỏi ý kiến bác sỹ điều trị về việc uống rượu trong và sau khi điều trị hóa trị có an toàn hay không. Bác sỹ sẽ đưa ra những lời khuyên thiết thực nhất về mức độ an toàn của việc uống rượu với một số loại thuốc điều trị ung thư nhất định và/hoặc các loại thuốc khác được kê đi kèm với quá trình hóa trị ung thư.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Rượu bia có tác hại đối với tim mạch như thế nào?
Mặc dù đã trải qua nhiều thập kỷ, bất chấp nhiều thông điệp truyền thông về tác hại của thuốc lá với sức khỏe, thuốc lá vẫn luôn là kẻ thù số 1 của sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối với những cá nhân mắc các bệnh tâm lý như trầm cảm hoặc lo âu. Đây là 2 bệnh tâm lý liên quan mật thiết với tần suất sử dụng thuốc lá do phụ thuộc vào nicotine. Hiểu rõ mối quan hệ sẽ là chìa khóa để phòng ngừa, điều trị và phục hồi sức khỏe.
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.
Tắm nước đá có thể giúp giảm đau cơ, cải thiện quá trình phục hồi sau khi tập luyện bằng cách giảm viêm và sưng, cải thiện sức khỏe chung. Tắm nước đá có nhiều cách, hiệu quả cũng khác nhau tùy mục tiêu mong muốn, khuyến cáo chung nên ngâm mình trong nước đá khoảng 10 đến 15 phút để đạt được những lợi ích tiềm năng.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.