Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Những điều cần biết về Omicron BA.4 và BA.5

Hai biến thể phụ mới của Omicron, được gọi là BA.4 và BA.5 hiện đang được phát hiện và lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới.

Các nghiên cứu ban đầu và một số dữ liệu cho thấy các biến thể này dễ lây truyền hơn và có thể gây ra các nhiễm trùng nặng hơn so vơi các biến thể Omicron trước đó. Sự đột biến trong các biến thể này có thể cho phép chúng lây nhiễm các tế bào tốt hơn và gây bệnh.

Theo dữ liệu từ Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ thì hai biến thể phụ Omicron mới — BA.4 và BA.5 hiện chiếm khoảng 13% các trường hợp nhiễm COVID-19 mới ở Mỹ, đây là một sự gia tăng đáng kể so với đầu tháng 5 khi các biến thể mới này chỉ chiếm 1% các trường hợp COVID-19.

Trong khi BA.2.12.1 là biến thể vẫn đang chiếm tỷ lệ cao trong các trường hợp nhiễm COVID-19 ở nhiều quốc gia như Mỹ thì biến thể phụ mới BA.4 và BA.5 cũng đang gia tăng nhanh chóng

Các nhà nghiên cứu đang nghiên cứu các đặc điểm khiến BA.4 và BA.5 trở nên dễ lây truyền và nguy hiểm hơn so với các biến thể trước đó. Dữ liệu sơ bộ từ các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy các biến thể đã phát triển để lây lan dễ dàng hơn, đề kháng tốt hơn với miễn dịch và dễ gây bệnh cho người nhiễm hơn.

Các nhà khoa học lần đầu tiên phát hiện BA.4 và BA.5 ở Nam Phi vào đầu năm nay và là các biến thể đang chiếm tỷ lệ cao ở các quốc gia này. Sự gia tăng các ca nhiễm không cao như những đợt trước, do miễn dịch cộng đồng hiện có. Tuy nhiên, các biến thể mới BA.5 và BA.4 đang làm gia tăng số lượng các trường hợp và trường hợp nhập viện, cho thấy biến thể này dễ lây truyền hơn biến thể Omicron BA.2.

Theo dữ liệu thống kê, biến thể BA.4 và BA.5 vẫn chỉ chiếm tỷ lệ thấp trong số các trường hợp nhiễm COVID-19 trên toàn cầu, nhưng đã được phát hiện ở ít nhất 46 quốc gia. Vùng miền Nam nước Mỹ có tỷ lệ nhiễm biến thể BA.4 và BA.5 cao nhất, chiếm 1/5 các trường hợp COVID-19 tại đây.

Các biến thể của Omicron ngày càng gia tăng khả năng né tránh các phản ứng miễn dịch

Chủng Omicron xuất hiện lần đầu không gây ra tình trạng bệnh nặng cho người mắc, mặc dù Omicron dễ lây truyền hơn so với chủng Delta.

Các nhà nghiên cứu ở Tokyo cho biết các biến thể của Omicron có nhiều khả năng gây bệnh hơn biến thể trước. Nghiên cứu cũng cho thấy khi những người không được tiêm chủng hồi phục sau nhiễm biến thể BA.1 hoặc BA.2, họ không có đủ kháng thể để bảo vệ chống lại BA.4 và BA.5.

Các biến thể BA.4 và BA.5 tái tạo dễ dàng hơn trong các tế bào phổi của người và gây ra bệnh nặng hơn so với biến thể BA.2. Các phát hiện sơ bộ này cho thấy nguy cơ của BA.4 và BA.5 đối với sức khỏe toàn cầu có khả năng lớn hơn so với BA.2 ban đầu,

Nhiều đột biến trong các biến thể Omicron cho phép virus thoát khỏi hệ thống phòng thủ miễn dịch. Các kháng thể trong hệ miễn dịch được huấn luyện để nhận ra một số đặc điểm nhất định của virus COVID-19, thì các biến thể mới hơn có thể biến đổi đến mức các kháng thể hiện có trong cơ thể không thể nhận ra.

Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng ngay cả ở những người được tiêm chủng đầy đủ các liều vaccine, khi được điều trị bằng kháng thể đơn dòng thì khả năng chống lại BA.4 và BA.5 kém hiệu quả hơn đáng kể so với BA.2.12.1. Hiện nay chỉ có thuốc kháng virus bebtelovimab tỏ ra hiệu quả trong việc chống lại cả biến thể BA.2.12.1 và BA.4 / 5.

Các nhà khoa học vẫn cần thêm các dữ liệu lâm sàng để biết chính xác BA.4 và BA.5 hoạt động như thế nào. Dữ liệu về BA.4 và BA.5 đang còn khá hạn chế, chỉ có một vài số liệu được ghi nhận như ở Bồ Đào Nha, biến thể BA.5 đã vượt qua BA.2, lây lan nhanh hơn BA.2 khoảng 13%.

Các đột biến của biến thể BA.4 và BA.5 so với các biến thể khác

Biến thể Omicron và các dòng phụ của Omicron, đều có đột biến từ tất cả bốn biến thể được quan tâm trước đó — Alpha, Beta, Gamma và Delta.

BA.4 và BA.5 giữ lại một số đặc điểm ở chủng Delta, bao gồm một phần của bộ gen được gọi là phần dư L452. Đột biến này gây ra biến đổi ở vị trí L452 trên protein gai của virus để giúp virus bám tốt hơn vào thụ thể ACE2 trong tế bào người và gây bệnh và đang được Tổ chức y tế thế giới ưu tiên nghiên cứu.

Liệu BA.4 và BA.5 có gây ra một làn sóng nhiễm COVID mới?

Mỹ đang trải qua làn sóng nhiễm Omicron. Số ca mắc trung bình trong bảy ngày là hơn 100.000 trong tuần đầu tiên của tháng Sáu, tăng từ khoảng 30.000 ca so với tuần đầu tiên của tháng Tư. Tuy nhiên, liệu sự lây lan của BA.4 và BA.5 có gây ra sự gia tăng các ca bệnh và số ca nhập viện hay không vẫn còn được xem xét. Rất may là hầu hết người dân Mỹ đều đã bị nhiễm hoặc được tiêm phòng bảo vệ. Hơn 70% người Mỹ trên 5 tuổi hiện đã được tiêm chủng đầy đủ và khoảng 146 triệu người có thể đã bị nhiễm COVID-19 kể từ khi bắt đầu đại dịch.

Với khả năng miễn dịch kết hợp từ tiêm chủng và mắc bệnh giúp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh nặng từ các biến thể Omicron trong tương lai. Các nhà sản xuất vaccine đang phát triển vaccine đặc hiệu với Omicron nhằm tạo ra các kháng thể có thể chống lại các biến thể hiện tại và tương lai hiệu quả hơn so với vaccine COVID-19 ban đầu. Tuy nhiên, phải mất ít nhất sáu tháng để nhà sản xuất vaccine phát triển một phiên bản mới của vaccine mRNA COVID-19. Với tốc độ biến đổi của virus thì các vaccine từng có hiệu quả cao có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều cần biết về hai biến thể mới xuất hiện của chủng Omicron: BA.4 và BA.5

Viện Y học ứng dụng Việt Nam (Tổng hợp) -
Bình luận
Tin mới
  • 27/02/2026

    6 lý do bạn nên ăn dâu tây mỗi ngày

    Không chỉ được mệnh danh là 'nữ hoàng' của các loại quả mọng nhờ hương vị ngọt ngào và vẻ ngoài rực rỡ, dâu tây còn chứa nhiều hợp chất đặc biệt có lợi cho sức khỏe. Dưới đây là 6 lý do chúng ta nên ăn dâu tây mỗi ngày.

  • 27/02/2026

    Phòng ngừa các bệnh đường hô hấp phổ biến khi thời tiết nồm ẩm

    Độ ẩm không khí tăng cao là "nỗi ám ảnh" đối với sức khỏe của nhiều gia đình tại miền Bắc. Đây là thời điểm mà nhiệt độ thay đổi thất thường, không khí trong nhà luôn trong tình trạng bí bách không chỉ gây bất tiện trong sinh hoạt mà còn là tác nhân hàng đầu khiến các ca bệnh đường hô hấp bùng phát mạnh mẽ. Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn nhận diện sớm các nguy cơ và cách chăm sóc sức khỏe cho cả gia đình.

  • 26/02/2026

    Tiềm năng hỗ trợ tăng cường hệ miễn dịch từ trà thảo mộc

    Hệ miễn dịch chỉ hoạt động hiệu quả khi duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, tránh tình trạng viêm quá mức gây tổn thương mô. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng các hợp chất thực vật như Flavonoid, Catechin và Mogroside có trong các loại trà thảo mộc có khả năng can thiệp tích cực vào quá trình bảo vệ niêm mạc và điều hòa miễn dịch.

  • 26/02/2026

    Mặt nạ dưỡng da phù hợp cho mùa đông

    Cái lạnh thường khiến chúng ta ngại chạm tay vào những miếng mặt nạ mát lạnh. Tham khảo những loại mặt nạ phù hợp cho mùa đông và bí quyết để duy trì thói quen dưỡng da ngay cả trong những ngày giá rét nhất.

  • 26/02/2026

    Đau tăng trưởng (Growing pain) ở trẻ

    Đau nhức do phát triển là những cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói kiểu chuột rút mà trẻ em có thể gặp phải và thường gặp nhất là ở chân. Những cơn đau này thường xảy ra vào cuối ngày hoặc ban đêm, đau ở cả hai chân và tình trạng sẽ đỡ hơn khi trẻ nghỉ ngơi. Vậy nguyên nhân gây ra các cơn đau này ở trẻ là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây!

  • 25/02/2026

    Ăn trứng mỗi ngày có tốt không?

    Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?

  • 25/02/2026

    8 loại gia vị nên dùng khi bạn đang hạn chế lượng muối

    Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.

  • 24/02/2026

    Một số thảo dược chống viêm tiềm năng

    Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.

Xem thêm