Gout là bệnh diễn biến trong thời gian dài. Khoảng 2.1 triệu người Mỹ bị gout. Gout có thể gặp ở bất kỳ ai, ở độ tuổi nào, nhưng thường gặp ở đàn ông độ tuổi từ 40-50. Tỷ lệ gặp ở nam giơi gấp 9 lần ở nữ giới. Đối với phụ nữ nếu mắc bệnh thường xảy ra ở giai đoạn mãn kinh.
Bệnh gout có liên quan chặt chẽ tới bệnh béo phì, cao huyết áp, tiểu đường và tăng lipid máu. Một số ý kiến cho rằng bệnh gout còn có liên quan đến di truyền.
Nguy cơ cao gây ra bệnh gout gồm: béo phì và thừa cân, nghiện rượu nặng, cao huyết áp, suy thận, suy giáp.
Gout thường ảnh hưởng đến một khớp, hay gặp nhất là ngón chân cái. Ngoài ra, đầu gối, mắt cá chân, bàn chân, tay, cổ tay, khuỷu tay cũng có thể bị ảnh hưởng. Giai đoạn cuối, các khớp vai, hông, cột sống có thể bị ảnh hưởng nhưng trường hợp này hiếm khi xảy ra.
Một số bệnh khác có thể có triệu chứng giống Gout như:
Nguyên nhân gây bệnh
Cơ chế bệnh gout là do sự tích tụ acid uric dư thừa có trong cơ thể, tạo thành các tinh thể u-rat nằm tại khớp. Sự tăng acid uric có thể do tăng sản xuất acid uric hoặc do giảm đào thải acid uric ra khỏi cơ thể. Thức ăn giàu purin hoặc một số thuốc cũng có khả năng làm tăng nồng độ acid uric.
Trong trường hợp gout cấp tính, các triệu chứng xuất hiện đột ngột và dữ dội, bệnh nhân đau và sưng khớp. Da xung quanh khớp đỏ hoặc tím. Các cơn gout cấp thường xảy ra vào ban đêm, sẽ biến mất sau 5-10 ngày. Nếu không được điều trị, các cơn gout cấp sẽ xảy ra tần suất lớn hơn và có thể kéo dài hơn. Các cơn gout cấp xảy ra thường xuyên sẽ gây tổn thương khớp.
Chẩn đoán gout
Chuẩn đoán đúng bệnh gout là vô cùng quan trọng. Chuẩn đoán dựa vào phát hiện ra các hạt tophi, các hạt này có thể được tìm thấy ở dưới da. Trong dịch khớp có thể thấy các tinh thể urat.
Xác định nồng độ acid uric không có nhiều ý nghĩa. Nồng độ này có thể bình thường, có thể giảm trong cơn gout cấp, cũng có thể tăng lên đối với những người chưa từng trải qua cơn gout cấp.
Điều trị
Điều trị gout gồm có dùng thuốc và thay đổi lối sống. Các thuốc được sử dụng gồm có:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Chế độ ăn uống cho bệnh gout
Quả bơ giàu dưỡng chất, vị béo ngậy, được sử dụng trong chế độ ăn và y học cổ truyền. Dùng đúng cách giúp bổ sung dinh dưỡng và phát huy giá trị của loại quả này.
Một nghiên cứu trình bày tại hội nghị Tuần lễ Tiêu hóa châu Âu (UEG Week) 2025 cho thấy việc tăng cường hai loại chất xơ lên men là beta-glucan và inulin có thể liên quan đến việc giảm khoảng 30% nguy cơ mắc bệnh Crohn ở nhóm người có nguy cơ cao. Đây được xem là một hướng đi tiềm năng trong phòng ngừa bệnh lý viêm ruột này.
Khi những cơn gió lạnh đầu mùa ùa về và ngày dần ngắn lại, chúng ta không chỉ đón nhận sự thay đổi của thời tiết mà còn phải đối mặt với sự gia tăng đột biến của các ca mắc cảm cúm. Virus cúm, hay còn gọi là influenza, dường như luôn chọn mùa đông làm thời điểm "vàng" để bùng phát, mang theo hàng loạt triệu chứng khó chịu như sốt cao, đau nhức toàn thân và các vấn đề về đường hô hấp. Tại sao loài virus này lại phát triển mạnh mẽ và lây lan nhanh chóng đến vậy khi nhiệt độ xuống thấp? Bài viết này sẽ đi sâu vào những cơ sở khoa học giải thích cho sự bùng phát của bệnh cúm vào mùa đông, từ đó cung cấp các biện pháp phòng ngừa thiết thực để bảo vệ sức khỏe cho bạn và gia đình.
Lạc giàu protein thực vật, chất béo không bão hòa, chất xơ cùng nhiều vitamin và khoáng chất. Ăn lượng đúng cách có thể giúp bổ sung nhiều dưỡng chất.
Bơi lội là môn thể thao toàn thân được nhiều người yêu thích nhờ khả năng vừa rèn luyện thể lực vừa giúp thư giãn tinh thần. Với cùng một khoảng thời gian vận động, bơi lội có thể tiêu hao lượng calo tương đương chạy bộ nhưng lại ít gây áp lực lên xương khớp hơn.
Trên thị trường hiện có nhiều loại thực phẩm chức năng được quảng cáo với công dụng hỗ trợ giảm cholesterol máu, thu hút sự quan tâm của người có rối loạn lipid máu.
Chuối giàu kali, việc bổ sung đủ khoáng chất thiết yếu này có thể hỗ trợ sức khỏe tim mạch, giảm nguy cơ mắc các bệnh nói chung.
Các thuốc nhóm GLP-1 như semaglutide hiện được kê đơn chủ yếu để điều trị đái tháo đường type 2 và béo phì.