Lác mắt là tình trạng rất phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tình trạng này cũng có thể gặp phải ở trẻ lớn hơn. Có khoảng 1 trên 20 trẻ bị lắc mắt. Trẻ có thể bị lác 1 mắt hoặc cả 2 mắt và tình trạng lác mắt có thể diễn ra liên tục hoặc không liên tục. Nguyên nhân gây lác mắt ở trẻ là do não bộ chưa phát triển đầy đủ và các cơ mắt vẫn đang học cách phối hợp với nhau và phối hợp với các chuyển động của mắt.
Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa
Mặc dù lác mắt là tình trạng phổ biến nhưng mắt lác vẫn là điều bạn cần để mắt đến. Nếu mắt con bạn vẫn còn lác khi được khoảng 4 tháng tuổi, thì đã đến lúc bạn nên đưa con đi kiểm tra.
Mắt lác có thể không chỉ là một vấn đề thẩm mỹ mà thị giác của trẻ có thể bị đe dọa. Ví dụ, theo thời gian, bên mắt không bị lác, chiếm ưu thế hơn có thể bù đắp cho mắt bị lác, điều này có thể dẫn đến giảm thị lực ở mắt yếu hơn khi não học cách bỏ qua các thông điệp thị giác của nó. Đây được gọi là nhược thị.
Hầu hết trẻ nhỏ bị lác được chẩn đoán trong độ tuổi từ 1 đến 4 và lác mắt càng được phát hiện sớm càng tốt, trước khi các kết nối giữa mắt và não được phát triển đầy đủ. Có nhiều phương pháp điều trị lác mắt, từ miếng dán, đeo kính cho đến phẫu thuật, có thể làm thẳng mắt lác của trẻ và giúp bảo vệ thị lực của chúng.
Các triệu chứng của tình trạng lác mắt ở trẻ em?
Trẻ bị lác mắt sẽ có hai mắt không nhìn cùng về một hướng. Mắt bị lác có thể lác vào trong, lác ra ngoài, lác lên trên hoặc lác xuống dưới. Các loại lác mắt bao gồm:
Ngoài việc mắt quay theo hướng nào, các bác sĩ còn chia nhỏ thêm các trường hợp lác. Các phân loại phổ biến bao gồm:
Điều quan trọng cần lưu ý là không phải mọi trường hợp lác đều có thể dễ dàng nhìn thấy bằng mắt thường. Nói chuyện với bác sĩ nhi khoa của con bạn nếu bạn nhận thấy bất kỳ triệu chứng nào dưới đây, bất kể mắt của con bạn nhìn có lác hay không
Những nguyên nhân gây ra mắt lác ở trẻ sơ sinh là gì?
Lác mắt là do các cơ mắt không hoạt động đồng thời nhưng tại sao các cơ này không hoạt động cùng nhau là một bí ẩn đối với các chuyên gia. Tuy nhiên, họ biết rằng một số trẻ có nguy cơ bị lác mắt cao hơn những đứa trẻ khác. Chúng bao gồm:
Trẻ em có tiền sử gia đình bị lác, đặc biệt là có cha mẹ hoặc anh chị em bị lác.

Kiểm tra thị lực (để kiểm tra sức khỏe của mắt, sự phát triển thị lực và sự điều chỉnh của mắt) nên là một phần trong mỗi lần khám sức khỏe của trẻ bắt đầu từ 6 tháng tuổi. Nếu thực sự xác định được rằng mắt của trẻ bị lác, chúng sẽ nhận được một trong các phương pháp điều trị tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng lác.
Các phương pháp điều trị mắt lác nhẹ bao gồm:
Đối với chứng lác mắt nghiêm trọng hơn, các lựa chọn bao gồm:
Phẫu thuật
Trẻ sẽ được gây mê toàn thân, các cơ mắt được thắt chặt hoặc thả lỏng để điều chỉnh mắt. Trẻ có thể cần phải đeo miếng che mắt và hoặc nhỏ mắt, nhưng nói chung, quá trình hồi phục chỉ mất vài ngày.
Những trẻ bị lác mắt thường xuyên sẽ có nguy cơ phải phẫu thuật cao hơn so với những trẻ thỉnh thoảng mới lác. Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ sử dụng chỉ khâu có thể điều chỉnh, cho phép họ điều chỉnh hướng mắt sau khi phẫu thuật.
Tiêm botox
Trong quá trình gây mê, bác sĩ sẽ tiêm Botox vào cơ mắt để làm nó yếu đi. Bằng cách thả lỏng cơ, mắt có thể điều chỉnh đúng cách. Việc tiêm có thể cần được lặp lại định kỳ, nhưng trong một số trường hợp, tác dụng có thể kéo dài.
Tuy nhiên, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) đã lưu ý rằng tính an toàn và hiệu quả của botox ở bệnh nhi dưới 12 tuổi vẫn chưa được thiết lập.
Triển vọng của trẻ sơ sinh mắt lác là gì?
Không thể ngăn ngừa chứng lác mắt, nhưng phát hiện và điều trị sớm là chìa khóa quan trọng.
Bên cạnh các vấn đề về thị lực kéo dài, trẻ bị lác không được điều trị có thể chậm đạt được các mốc phát triển, chẳng hạn như cầm nắm đồ vật, đi và đứng. Trẻ em được chẩn đoán và điều trị sớm sẽ có cơ hội tốt nhất để có thị lực và sự phát triển khỏe mạnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Viêm màng bồ đào
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.