Đối với mỗi loại vaccin, cần lưu ý những điểm sau:
Đối với tiêm phòng lao
Việc phòng lao cho trẻ sơ sinh được thực hiện bằng cách tiêm vaccin BCG ngay trong tuần đầu sau sinh. Thuốc được tiêm trong da. Sau khi tiêm, có thể nổi mẩn đỏ, sưng tấy nhẹ, hoặc loét tại chỗ tiêm. Không nên tiêm cho trẻ bị viêm da có mủ, đang bị sốt, bị tiêu chảy, suy dinh dưỡng, bệnh tai mũi họng, viêm phổi, vàng da,... Việc tiêm BCG có hiệu quả lâu dài, nhưng không được dùng cho những người đã bị lao. Trẻ nhiễm HIV vẫn nên tiêm phòng lao, ngoại trừ bệnh đã diễn tiến sang giai đoạn AIDS.
Đối với tiêm phòng bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm phổi, viêm màng não, viêm gan B
Theo lịch tiêm chủng, trẻ được tiêm 3 liều cách nhau khi đủ 1 tháng, đủ 2 tháng và đủ 3 tháng. Thuốc có hiệu quả bảo vệ trong nhiều năm sau khi đã tiêm đủ liều. Tại chỗ tiêm ngừa có thể bị nổi mẩn đỏ, sưng đau nhẹ, gây sốt 38 - 39oC. Trong trường hợp trẻ đang mắc bệnh nhiễm khuẩn, sốt cao, rối loạn thần kinh... không nên tiêm ngừa vaccin này.
Đối với tiêm phòng bệnh bại liệt
Trẻ sẽ được chủng ngừa sốt bại liệt cùng lúc với tiêm ngừa bạch hầu, uốn ván, ho gà bằng thuốc ngừa dạng uống (vaccin Sabin): uống 3 lần vào lúc 2 tháng tuổi, 3 tháng tuổi và 4 tháng tuổi. Trẻ sẽ được bảo vệ trong 10 năm. Sau khi uống thuốc ngừa, trẻ có thể bị nhức đầu, đau cơ hoặc tiêu chảy... Tuyệt đối không được cho uống Sabin ngừa sốt bại liệt trong lúc trẻ đang bị sốt, bị nôn, tiêu chảy, đang được điều trị bằng thuốc corticoid, mắc bệnh ác tính (u lympho, bạch cầu cấp...) hoặc bị nhiễm HIV. Không cho các cháu uống thuốc Sabin đồng thời với vaccin thương hàn uống. Với một số trường hợp trẻ không uống được, nên dùng vaccin dạng tiêm (vaccin Salk).
Đối với tiêm phòng sởi
Trẻ được chủng ngừa bệnh sởi khi đã đủ 9 tháng tuổi và nhắc lại khi đủ 18 tháng. Thuốc được tiêm dưới da và có tác dụng bảo vệ trong nhiều năm. Sau khi tiêm, có thể có phản ứng tại chỗ tiêm: sưng đỏ, nổi mụn nước. Trẻ cũng có thể bị sốt, ho, sổ mũi và nhức đầu. Khi trẻ đang sốt cao, bị suy giảm miễn dịch do có HIV, cần hoãn tiêm thuốc ngừa bệnh sởi.
Đối với vaccin phòng bệnh viêm gan B
Hầu hết các vaccin ngừa viêm gan B đều rất an toàn. Một số ít các trường hợp có thể bị sốt nhẹ, đau chỗ tiêm, nôn ói, chóng mặt, mệt mỏi, đau cơ sau khi tiêm. Đối với trẻ sinh ra nhẹ cân cần chờ cho đến khi trẻ được 2kg hoặc từ 2 tháng tuổi mới bắt đầu tiêm ngừa viêm gan B. Hiện nay, ngành y tế đã và đang triển khai tiêm loại vaccin 5 trong 1 được nhập khẩu từ nước ngoài (Quinvaxem) để hạn chế việc trẻ phải tiêm chủng nhiều lần. Đây là loại vaccin đã được đã được WHO kiểm định với chỉ một mũi tiêm nhưng phòng được tất cả các bệnh bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và viêm màng não mủ (Hib), thay cho việc phải sử dụng nhiều mũi tiêm ngừa như trước đây trong chương trình tiêm chủng mở rộng.
Lời khuyên cho các bậc cha mẹ khi đưa trẻ đi tiêm phòng
Tiêm vaccin là biện pháp kinh tế, hiệu quả cao để phòng nhiều bệnh nguy hiểm. Việc gần đây có một số tai biến sau khi tiêm chưa hẳn là do vaccin kém chất lượng mà có thể do thời điểm tiêm vaccin đối với từng trường hợp cụ thể không thích hợp. Vaccin cũng là một loại thuốc nên cũng có thể gây ra tình trạng dị ứng từ nhẹ đến nặng.
Các bậc phụ huynh khi đưa trẻ đến tiêm vaccin cần thông báo rõ tình trạng sức khỏe của con em mình và cán bộ y tế cũng cần xem xét cẩn thận trước khi tiêm cho các cháu. Nếu trẻ có tiền sử dị ứng với thuốc hoặc các chất lạ khác cần phải hết sức thận trọng và phải ghi trong sổ theo dõi tiêm chủng của trẻ.
Phản ứng phụ khi tiêm vaccin có thể xảy ra. Tuy nhiên, phụ huynh không nên quá hoang mang vì những phản ứng nguy hiểm rất hiếm gặp. Các bậc cha mẹ nên tìm hiểu kỹ thông tin về những phản ứng phụ ngay tại điểm tiêm chủng để làm chủ được những phản ứng sau tiêm ở trẻ. Những phản ứng nguy hiểm thường chỉ xảy ra trong vòng 30 phút sau tiêm nên phụ huynh cần lưu lại thêm 30 phút tại điểm tiêm chủng để được theo dõi và xử lý kịp thời nếu trẻ xuất hiện tình trạng: nổi ban, mề đay, sưng môi, phù mắt, khó thở, mất tri giác.
Sau thời gian 30 phút, phụ huynh cần theo dõi trẻ tại nhà ít nhất 24 giờ. Trong thời gian này trẻ sẽ gặp những phản ứng thông thường: đau nơi tiêm, quấy khóc, biếng ăn, nổi ban, sốt nhẹ. Các phản ứng nặng rất hiếm gặp cần được can thiệp y tế gồm: sốt cao trên 390C, khóc thét kéo dài, tím tái, khó thở, co gồng và các biểu hiện bất thường khác. Trong trường hợp này, trẻ cần được nhanh chóng đưa đến bệnh viện để được chăm sóc.
Dưa chuột vốn được coi là 'siêu thực phẩm' cấp nước và làm đẹp da. Tuy nhiên, việc tiêu thụ quá mức hoặc không đúng cách loại quả này có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực cho sức khỏe mà ít người ngờ tới.
Thưc ra, thời tiết tác động lên sức khỏe con người nhiều hơn bạn nghĩ. Với từng cá nhân, đặc biệt là những người có vấn đề về sức khỏe tâm lý, khi thời tiết đổi mùa, họ sẽ xuất hiện nhiều biểu hiện khó chịu như đau nửa đầu, mệt mỏi, vấn đề về thăng bằng, thậm chí là các cơn đau bùng phát khiến cuộc sống hàng ngày bị đảo lộn.
Cà tím thuộc họ cà, có thể chế biến thành nhiều món ăn ngon, hấp dẫn và cung cấp các chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe. Vậy nếu thường xuyên ăn cà tím, điều gì sẽ xảy ra với cơ thể?
Mang thai là một hành trình thiêng liêng nhưng đầy thử thách, khiến phụ nữ phải đối mặt với những thay đổi lớn về thể chất và tâm lý, có thể dẫn đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm thai kỳ.
Nha đam giúp làm dịu da, cấp ẩm, hỗ trợ phục hồi sau nắng và góp phần giảm kích ứng do tia UV. Bạn có thể kết hợp nha đam với một số nguyên liệu phù hợp để tạo hỗn hợp chăm sóc da dùng hằng ngày trong mùa hè.
Khi kỳ thi đến gần, học sinh thường phải dồn toàn bộ sự tập trung cho việc ôn luyện nên cảm giác áp lực, mệt mỏi là điều khó tránh. Áp dụng những cách dưới đây sẽ giúp bạn cân bằng tinh thần và giảm bớt lo âu hiệu quả. Dưới đây là 6 phương pháp đơn giản nhưng hữu ích để hạn chế stress trong mùa thi:
Nước dừa là thức uống tự nhiên ngon, mát, bổ và giàu điện giải nhưng thời điểm nào uống nước dừa tốt nhất cho sức khỏe thì không phải ai cũng biết.
Đôi khi quan sát kỹ móng tay, bạn nhận thấy một vài đốm trắng xuất hiện. Có lẽ bạn đã nghe nói rằng những đốm trắng này là dấu hiệu của tình trạng thiếu vitamin hoặc khoáng chất. Nhưng thiếu dinh dưỡng không phải là tất cả, còn nhiều nguyên nhân khác có thể dây nên các đốm trắng. Mặc dù chúng thường vô hại, do các hoạt động hàng ngày hoặc chấn thương nhỏ gây ra nhưng có một số điều bạn nên biết.