Rụng tóc sau khi khỏi COVID-19 là di chứng nhiều người gặp. Một khảo sát ở Hoa Kỳ cho thấy trong 6 tháng xảy ra dịch COVID-19, số người đến khám vì rụng tóc tăng gấp 3 so với 6 tháng trước khi dịch bệnh xảy ra.
Khỏi COVID-19 được 4 tháng nay nhưng chị An An (35 tuổi, ở quận 12, TP HCM) lại stress vì 'khủng hoảng' rụng tóc. Chưa bao giờ chị bị rụng tóc nhiều đến mức thấy lo lắng, mất ngủ như thế.
"Tóc rụng nhiều còn hơn cả khi mới sinh em bé xong" - chị An nói. Ngày trước, chị mất rất nhiều thời gian cho việc sấy tóc mỗi lần gội đầu xong, nay việc sấy chỉ mất 5 phút, bởi tóc rụng quá nhiều, búi tó chỉ có một nắm nhỏ.
Trao đổi với PV Báo Sức khoẻ & Đời sống, BS Nguyễn Quang Minh - Phó Trưởng Khoa Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Tế bào gốc, Bệnh viện Da liễu Trung ương - cho biết tình trạng rụng tóc tạm thời là bình thường sau khi bị sốt hoặc ốm, với COVID-19 cũng vậy.

BS Quang Minh kiểm tra nang tóc cho bệnh nhân.
(Ảnh: BSCC)
Theo bác sĩ Minh, hỏi tiền sử của những bệnh nhân tới khám vì rụng tóc sau khi khỏi COVID-19 được 2-3 tháng, bác sĩ phát hiện điểm chung họ gặp chứng rụng tóc ở giai đoạn ngừng phát triển của tóc. Đây là một dạng rụng tóc lan tỏa bất thường trong chu kỳ của nang tóc dẫn đến tóc rụng nhiều. Nó xảy ra khi nhiều sợi tóc hơn bình thường cùng lúc bước vào giai đoạn rụng (telogen) của vòng đời phát triển của tóc (bình thường chiếm khoảng 10% thì ở bệnh nhân có thể là 30%).
Khi mắc COVID-19, bệnh nhân có thể bị sốt, căng thẳng. Đây cũng là nguyên nhân khiến lông, tóc rơi vào giai đoạn rụng hơn. Cơ chế bệnh sinh là do giai đoạn anagen rút ngắn. Dưới tác động của một số yếu tố như thuốc điều trị (thuốc chống co giật), sốt, các nang tóc đang ở giai đoạn anagen nhanh chóng chuyển sang giai đoạn telogen, gây biểu hiện rụng tóc sau 2 - 3 tháng.
Ngoài ra, một số nghiên cứu ca bệnh, chùm ca bệnh năm 2021 đăng tải trên các tạp chí Dermatol Ther, Clin Cosmet Investig Dermatol cho thấy rụng tóc giai đoạn ở giai đoạn ngừng phát triển của tóc có liên quan tới nhiễm virus SARS-CoV-2.
"COVID-19 có thể là một căn nguyên căng thẳng tâm lý xã hội và cũng là một yếu tố stress gây phản ứng tiền viêm, hình thành vi huyết khối ảnh hưởng đến nang tóc dẫn đến hiện tượng rụng tóc giai đoạn ở giai đoạn ngừng phát triển của tóc, xảy ra trung bình 50 ngày sau nhiễm SARS-CoV- 2" - BS Minh phân tích.
Hầu hết mọi người đều thấy tóc rụng rõ rệt từ 2 -3 tháng sau khi bị nhiễm COVID-19. Một số ít tóc có thể bung ra khi tắm hoặc chải tóc. Sự rụng tóc này có thể kéo dài từ 6-9 tháng trước khi nó dừng lại. Hầu hết mọi người sau đó thấy tóc của họ bắt đầu trông bình thường trở lại và ngừng rụng.
Theo bác sĩ Nguyễn Quang Minh, để khắc phục điều này, cần phải có một thời gian để phục hồi. Điểm lạc quan ở đây là thường các nang tóc không bị ảnh hưởng quá mạnh gây mất nang trong quá trình nhiễm COVID-19, do đó cơ hội tóc mọc phát triển lại bình thường là khá cao.
Lời khuyên của bác sĩ:
- Chăm sóc gội, sấy tóc nhẹ nhàng, hạn chế dùng các loại hóa chất tác động lên tóc.
- Người bị rụng tóc nên bổ sung thêm các yếu tố vi lượng, chất chống ô-xy hóa, kháng viêm tốt cho nang tóc, để nang tóc đủ dinh dưỡng phát triển trở lại. Các hoạt chất cần thiết như sắt, kẽm, vitamin nhóm 3B, Biotin (vitamin H), vitamin B5… có thể bổ sung theo đường tại chỗ (như dầu gội, tinh chất bôi thoa...) hoặc đường uống.
- Có thể khám và tư vấn để điều trị thêm các thuốc phối hợp khác như Minoxidil, huyến tương giàu tiểu cầu, các thủ thuật kích thích nang tóc phát triển tại các cơ sở uy tín… Hạn chế các biện pháp truyền miệng dân gian, như dùng bia ủ qua đêm, vì các hoạt chất lên men, có cồn có thể không phù hợp với da đầu, gây trầm trọng thêm tình trạng rụng tóc.
- Giải tỏa căng thẳng, áp lực tâm lý hậu COVID-19, thường xuyên tập thể dục, giữ tinh thần khỏe mạnh, vững vàng và lạc quan.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Rụng tóc do căng thẳng.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.