Ethylene oxide là gì?
Ethylene oxide (EO) là hợp chất hữu cơ có công thức C2H4O, là một chất khí không màu, có mùi ngọt nếu ở hàm lượng rất cao. Loại khí này có thể hòa tan trong nước. Chỉ có một hàm lượng rất nhỏ ethylene oxide trong tự nhiên, ví dụ như thải ra từ nguồn đất bị ngập úng (waterlogged soil) hoặc phân và bùn thải. Ở một số loại thực vật, ethylene (một chất điều hoà sinh trưởng thực vật tự nhiên) cũng bị phân huỷ thành EO. Quá trình dị hoá ethylene ở một số sinh vật cũng tạo ra EO. Các định lượng về hàm lượng EO trong tự nhiên hiện nay không có sẵn, nhưng lượng khí EO trong tự nhiên là không đáng kể.
Ethylene oxide được sử dụng để làm gì?
Trong công nghiệp: Ethylene oxide được sử dụng chủ yếu để tạo ra ethylene glycol (một hóa chất được sử dụng để chống đông – antifreeze và polyester hóa).
Trong y học: Ethylene oxide cũng được sử dụng trong bệnh viện để tiệt trùng dụng cụ y tế.
Trong ngành công nghiệp thực phẩm, EO được sử dụng với các mục đích sau:
Diệt côn trùng, chống nấm mốc, sâu bọ đối với các nguyên liệu sau khi vừa thu hoạch (các loại rau gia vị, hạt gia vị khô, bột mì….)
EO rất dễ bay hơi. Ở những thực phẩm đã từng trải qua các quá trình xử lý có sử dụng EO (như chống nấm, chống côn trùng, diệt khuẩn) thì hàm lượng EO ở mức rất nhỏ. Sản phẩm phản ứng quan trọng nhất của EO trong thực phẩm là 2-cloroetanol. Do đó, các quy định về giới hạn dư lượng đối với tổng dư lượng của EO sẽ bao gồm hàm lượng của EO và cả của 2-cloroetanol.

Theo quy định của Liên minh Châu Âu (EU) về việc sử dụng các chất phụ gia, chỉ có các chất phụ gia tuân theo các thông số kỹ thuật trong quy định của EU số 231/2012 mới có thể được lưu hành. Theo quy định 231/2012 của EU này, EO không được sử dụng để khử trùng các chất phụ gia. Do đó, các thực phẩm có chứa chất phụ gia đã được khử trùng bằng EO sẽ không được bày bán tại các quốc gia EU.
Từ khi có các quy định về hàm lượng EO tại châu Âu, có tới hàng chục nghìn sản phẩm từ các quốc gia khác nhau đã bị thu hồi. Tại Pháp, từ mùa thu năm 2020, có tới gần 7000 mẫu sản phẩm đã bị thu hồi (bao gồm các sản phẩm như hạt vừng, kem, gừng, ớt, cà phê, bánh mì và các loại đồ ăn sẵn) và việc thu hồi sản phẩm có chứa EO cũng khá phổ biến ở các quốc gia khác tại châu Âu. Chỉ tính riêng năm 2020 và chỉ tính riêng trên sản phẩm là hạt vừng, Bỉ đã tiến hành thu hồi khoảng 105 loại sản phẩm khác nhau. Từ tháng 7/2020, các sản phẩm khác ngoài hạt vừng như gia vị, ngũ cốc kem, nước xốt và các loại hạt khô cũng theo quy định tại châu Âu và được thu hồi hàng loạt.
Vừa qua, Ireland cũng đã tiến hành thu hồi 2 sản phẩm mì ăn liền và phở ăn liền của công ty Acecook Việt Nam do có phát hiện EO. Cùng với các sản phẩm ăn liền này, Ireland cũng đã tiến hành thu hồi hàng loạt các sản phẩm khác thuộc ngành hàng gia vị, hạt vừng, hỗn hợp hạt, các sản phẩm dùng khi làm bánh, xốt hạt điều, cá hồi phi lê có xốt chứa hạt vừng….
Tại các quốc gia châu Âu, EO không được phép sử dụng trong dây chuyền sản xuất thực phẩm, nhưng có thể tồn tại dưới dạng tồn dư với hàm lượng rất thấp (0.02-0.1ppm). Tuy vậy, việc sử dụng EO vẫn được cho phép tại các quốc gia như Mỹ, Canada, Singapore hay Ấn Độ. Nguyên nhân là vì EO có thể ngăn ngừa tình trạng thực phẩm bị nhiễm khuẩn như E.coli, Samonella... Do đó, phương châm của các quốc gia này là vẫn sử dụng EO với mục tiêu “sử dụng chất hoá học nếu trong phạm vi kiểm soát thì còn tốt hơn sản phẩm bị nhiễm khuẩn”.
Vậy tại sao các nước châu Âu lại tiến hành thu hồi các sản phẩm có chứa EO, tại sao EO lại có mặt trong các loại thực phẩm này và ngưỡng giới hạn cho phép sử dụng EO trong một số sản phẩm ở 1 số quốc gia khác như thế nào?
Hãy cùng tìm hiểu trong series các bài viết tiếp theo của Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Những thực phẩm nào có thể chứa Ethylene oxide?
Tài liệu tham khảo
https://www.atsdr.cdc.gov/toxfaqs/tfacts137.pdf
https://www.who.int/ipcs/publications/cicad/en/cicad54.pdf
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.