Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Có nên giữ cholesterol máu ở mức thấp không?

Có rất nhiều thông tin về những nguy cơ của tình trạng tăng cholesterol máu, nhưng mức cholesterol máu thấp liệu cũng có nguy cơ tương tự?

Có nên giữ cholesterol máu ở mức thấp không?

Đối với người lớn, mức cholesterol bình thường là từ 140 đến 200 mg/dL. Mức cholesterol toàn phần trên 240 mg/dL được coi là cao, và mức dưới 140 mg/dL được coi là thấp bất thường.

Nồng độ cholesterol toàn phần tăng cao có thể dẫn đến bệnh động mạch (xơ vữa động mạch), bệnh tim hoặc đột quỵ.

Nhưng so với cholesterol tăng cao, nồng độ cholesterol thấp thường ít được quan tâm. Trong khi chúng ta thường bàn về việc giảm cholesterol trong chiến lược phòng ngừa hoặc điều trị bệnh tim mạch, thì có khá ít những bàn luận quanh các nguy hại và cách phản ứng lại với tình trạng hạ cholesterol máu.

LDL Cholesterol thấp là tốt nhưng HLD Cholesterol thấp là không tốt

Nồng độ LDL cholesterol thấp là điều chúng ta mong muốn. Giá trị khuyến nghị của mức LDL cholesterol là nhỏ hơn 100 mg/dL.

Nồng độ HDL cholesterol thấp là không tốt, vì nó bảo vệ chúng ta chống lại bệnh tim. Mức dưới 40 mg/dL là một dấu hiệu cảnh báo, cho thấy nguy cơ mắc bệnh tim gia tăng. Giá trị khuyến nghi của mức HDL cholesterol là trên 60 mg/dL

Mức cholesterol toàn phần có nên thấp không?

Từ góc độ sức khoẻ của tim, mức cholesterol toàn phần không thể quá thấp. Bên cạnh đó, mức HDL thấp bất thường có thể làm suy giảm cơ thể ở các khu vực khác ngoài tim, bao gồm não, gan và hệ tiêu hóa.

Các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu điều này. Một rối loạn khi bệnh nhân có HDL thấp là bệnh Tangier hoặc thiếu alpha lipoprotein mang tính chất gia đình.

Cholesterol thấp có thể mang lại lợi ích trong một số trường hợp nhưng cũng có những nguy hại ở các trường hợp khác. Ví dụ, trong một thời gian dài, nồng độ cholesterol rất thấp làm tăng tỷ lệ đột quỵ do xuất huyết xảy ra khi một mạch máu vỡ và chảy máu vào não. Những cơn đột quỵ như vậy có nhiều khả năng xảy ra ở những người có mức cholesterol thấp vì máu với một lượng nhỏ cholesterol không đông dễ dàng. Tuy nhiên, cơn đột quỵ do thiếu máu cục bộ xảy ra khi có các cục máu đông hoặc các chất khác ngăn máu được đưa tới não, và cholesterol là một nguồn gây tắc nghẽn mạch máu.

Cholesterol cũng đóng một vai trò trong chức năng não. Có vẻ như cholesterol trong não không đủ làm cản trở hoạt động của serotonin, một hóa chất mang thông điệp giữa các tế bào não và có liên quan chặt chẽ với tâm trạng. Mức cholesterol thấp bất thường có liên quan đến chứng trầm cảm và lo lắng.

Đối với các tình trạng khác, cholesterol thấp là triệu chứng đối với một số bệnh lý. Gan tạo ra khoảng ba phần tư lượng cung cholesterol của cơ thể, trong khi nguồn cung cấp cholesterol còn lại đến từ chế độ ăn uống, đặc biệt là từ thịt, trứng, sữa và hải sản. Không đáng ngạc nhiên, mức cholesterol có thể giảm nếu gan bị tổn hại do nghiện rượu, ung thư hoặc một bệnh khác. Bất kỳ bệnh nghiêm trọng nào của đường tiêu hóa hay suy dinh dưỡng cũng có thể làm giảm mức cholesterol.

Những gì bạn cần biết về mức Cholesterol thấp

Cholesterol rất cần thiết cho cơ thể và hiện diện trong mọi tế bào. Nếu không có nó, hormon giới tính sẽ không được sản xuất và quá trình tiêu hóa thức ăn không thể diễn ra.

Tốt nhất là giữ mức cholesterol toàn phần trong phạm vi trung gian, khoảng từ 150 đến 200 mg/dL. Do cholesterol cao phổ biến hơn là thấp nên cách tốt nhất để giữ mức cholesterol trong phạm vi bình thường là duy trì sự lựa chọn lối sống lành mạnh: Ăn nhiều trái cây, rau, bánh mì và các loại hạt; Hạn chế thực phẩm chất béo, bột thô và đường; Và tập thể dục nhiều.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều cần biết về các loại Cholesterol

Bình luận
Tin mới
  • 21/03/2026

    Trà thảo mộc và cơ chế sinh học giúp thư giãn tinh thần

    Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.

  • 21/03/2026

    7 thức uống giúp thanh lọc phổi tự nhiên

    Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.

  • 21/03/2026

    Khi cảm lạnh chuyển thành viêm xoang

    Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?

  • 20/03/2026

    Đản hoa – Thảo mộc thường bị bỏ quên

    Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.

  • 20/03/2026

    Sương mù não do hóa trị

    Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.

  • 19/03/2026

    Trẻ khó ngủ, mất ngủ do tăng động: Dấu hiệu không nên bỏ qua

    Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.

  • 19/03/2026

    Bệnh sốt xuất huyết

    Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

  • 19/03/2026

    Thảo mộc giàu flavonoid và vai trò trong hỗ trợ giảm nguy cơ ung thư

    Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.

Xem thêm