Đó chính là giai đoạn sơ sinh, việc chăm sóc và nuôi dưỡng giai đoạn này rất cần sự tỉ mỉ, nhẹ nhàng, thận trọng và đảm bảo vệ sinh.
Phòng trẻ nằm
Phải thoáng, yên tĩnh, đảm bảo vệ sinh sạch sẽ. Mùa hè phải mát, mùa đông phải ấm, tránh gió lùa. Mẹ nằm cùng con để tiện việc cho con bú và chăm sóc trẻ.
Nhiệt độ phòng
Trẻ đủ tháng bình thường cân nặng từ 2.500g trở lên thì nhiệt độ phòng tối thiểu 25 - 260C sẽ giúp trẻ hồi phục thân nhiệt và duy trì thân nhiệt ở mức bình thường vì trẻ thường bị hạ thân nhiệt sau sinh do tiếp xúc với môi trường ngoài tử cung.
Chăm sóc rốn trẻ sơ sinh.
Chăm sóc rốn
Khi trẻ ra đời, phổi bắt đầu hoạt động thì các mạch máu rốn sẽ xẹp và xơ hóa. Quá trình xơ hóa này hoàn thiện trung bình 6 - 8 tuần. Đoạn rốn còn lại sẽ khô và rụng. Bình thường rốn rụng ở ngày thứ 5 - 7 sau sinh. Trước khi rụng, chân rốn chưa khô, chưa thành sẹo nên phải chăm sóc cẩn thận, phải thay băng rốn hàng ngày để tránh vi trùng xâm nhập cơ thể.
Thao tác thay băng rốn cũng như thay băng vết thương: Trước hết, rửa tay bằng xà phòng và nước, sau đó sát trùng lại bằng cồn. Gỡ bỏ gạc cũ. Dùng còn 70 - 90 độ lau sạch chân rốn, đoạn rốn còn lại và lau xung quanh rốn một vùng đường kính 4 - 5cm.
Lau khô cồn bằng bông hấp tiệt trùng rồi dùng gạc vô trùng bọc kín đoạn rốn còn lại và dùng băng vô trùng băng lại.
Thay băng hàng ngày đến khi rốn rụng và khô thành sẹo, phải giữ rốn luôn khô, sạch.
Chăm sóc mắt
Khi đẻ thường, thai nhi lọt qua âm đạo của mẹ, mắt trẻ tiếp xúc với chất bẩn, nhất là người mẹ bị viêm nhiễm âm đạo có thể bị nhiễm khuẩn ngay sau sinh. Mắt trẻ cần được rửa bằng bông hoặc gạc thấm nước sạch, nước muối NaCl 0,9%, lau mỗi mắt 1 miếng gạc từ phía mũi ra ngoài rồi nhỏ thuốc mắt vào từng bên cho trẻ. Hiện nay, hay dùng gentamycin 0,3%.
Chăm sóc da và niêm mạc
Da trẻ mỏng, mềm. Tổ chức mỡ liên kết lỏng lẻo, do đó, da trẻ dễ bị tổn thương và nhiễm khuẩn. Lúc mới sinh, trên da trẻ em thường bao phủ một lớp gây trắng, không cần tắm ngay sau sinh, chỉ cần lau khô da, tóc của bé rồi mặc áo quấn tã ngay để giữ ấm cho trẻ. Ngày hôm sau, tắm bằng nước ấm sẽ làm sạch lớp gây, không nên giữ lâu lớp gây trên da trẻ. Sau mỗi lần trẻ đái, ỉa, nên rửa sạch bằng nước ấm và lau khô.
Mỗi lần thay tã cho trẻ phải rửa sạch bộ phận sinh dục và hậu môn bằng nước sạch, từ trước ra sau. Chú ý không để vi khuẩn từ hậu môn xâm nhập vào âm đạo bé gái, còn với bé trai, tuyệt đối không tuốt ngược bao quy đầu. Sau khi lau khô, thoa kem dưỡng da đề phòng hăm loét rồi quấn tã sạch cho trẻ.
Tắm cho trẻ sơ sinh.
Tắm cho trẻ
Vào mùa hè nóng bức, có thể tắm hàng ngày. Vào mùa đông, có thể tắm 2 - 3 lần/tuần vào lúc thời tiết ấm, thay vào đó là lau mặt, cổ, nách, bẹn... thường xuyên vì những chỗ này hay tích tụ mồ hôi dễ gây hăm loét da. Khi rốn chưa rụng, lúc tắm, tránh làm ướt rốn. Sau tắm, lau khô toàn thân, nhất là những vùng nếp gấp da rồi mặc áo, quấn tã cho trẻ.
Theo dõi phân, nước tiểu
Trong 24 giờ đầu sau đẻ, trẻ đã đi ngoài phân xu. Thời gian đi ngoài phân xu 2 - 4 ngày, phân xu có màu đen hoặc xanh thẫm, không có mùi. Nếu phân xu loãng, có mùi thối, bụng trướng, nề thành bụng, nôn nhiều thì phải nghĩ đến nhiễm khuẩn đường ruột, viêm ruột hoại tử, phải đưa đến bệnh viện khám và điều trị. Sau 24 giờ chưa đi ngoài phân xu, bụng trướng, nôn trớ thì có thể do phân xu quánh hoặc tắc ruột do teo hoặc không có lỗ hậu môn, phải cấp cứu ngoại khoa.
Theo dõi phân trong 24 giờ sau sinh rất quan trọng, giúp phát hiện những bất thường ở trẻ. Hết phân xu sẽ chuyển sang phân vàng nhuyễn hay hoa cà hoa cải.
Đi ngoài trung bình 8 - 9 lần/ngày, về sau giảm dần theo thời gian. Đi tiểu trung bình từ 15 - 20 lần/ngày, nước tiểu trong, không có mùi vì chức năng thận còn yếu, chưa cô đặc nước tiểu. Nếu trẻ đái ít, nước tiểu nặng mùi, màu sẫm, nên nghĩ đến việc trẻ bú không đủ sữa vì sữa mẹ rất nhiều nước, cần cho bú theo nhu cầu.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.