Thời tiết thay đổi, số trẻ mắc nhiễm trùng hô hấp đến khám và nhập viện tăng đột biến. Không khó để thấy các trẻ nhỏ mới chỉ hắt hơi sổ mũi một vài hôm đã chuyển nặng, ho, sốt khò khè ậm ạch do viêm phổi phải nhập viện điều trị, trong số đó có những trẻ rất nặng phải thở oxy, thở máy.... Nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là do virus RSV.

Virus hợp bào hô hấp RSV gây bệnh đường hô hấp thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với khả năng lây lan mạnh.
1. Virus RSV nguy hiểm như thế nào?
Virus RSV (respiratory syncytial virus) hay virus hợp bào hô hấp là một loại virus gây bệnh truyền nhiễm tại đường hô hấp và phổi phổ biến nhất ở trẻ em. Ước tính 60% trẻ mắc trước 1 tuổi và có đến 80% trẻ đã nhiễm RSV khi được 2 tuổi.
Các triệu chứng thường nhẹ giống cảm lạnh, hầu hết hồi phục trong một hoặc hai tuần, tuy nhiên những người có nguy cơ cao có thể bị bệnh nặng như viêm tiểu phế quản, viêm phổi nặng dẫn đến suy hô hấp cấp.
RSV là nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
|
Tại Hoa Kỳ, ước tính 58.000 nhập viện mỗi năm ở trẻ dưới 5 tuổi với 100 - 500 ca tử vong. Trên toàn cầu, RSV được ước tính gây ra 2,3% trường hợp tử vong ở trẻ sơ sinh từ 0 đến 27 ngày tuổi, 6,7% trường hợp tử vong ở trẻ sơ sinh từ 28 đến 364 ngày tuổi và 1,6% trường hợp tử vong ở trẻ em từ 1 đến 4 tuổi. Ở độ tuổi 1- 364 ngày tuổi, RSV là nguyên nhân gây tử vong nhiều hơn bất kỳ tác nhân truyền nhiễm đơn lẻ nào khác ngoài sốt rét. |
RSV thường gây ra các đợt bùng phát theo mùa trên khắp thế giới. Ở Bắc bán cầu, những đợt dịch thường xảy ra từ tháng 10 hoặc tháng 11 đến tháng 4 hoặc tháng 5 hàng năm với đỉnh điểm vào tháng 1 hoặc tháng 2.
2. Các đối tượng nào có nguy cơ cao nhất mắc bệnh nặng do RSV?
RSV có thể gây nhiễm trùng hô hấp ở mọi lứa tuổi, hầu hết giống với cảm lạnh thông thường, tuy vậy một số đối tượng sau có thể mắc bệnh nghiêm trọng hơn:
- Trẻ sinh non, tuổi thai dưới 37 tuần.
- Trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 6 tháng trở xuống. Trên toàn cầu, ước tính khoảng 45% trường hợp nhập viện và tử vong tại bệnh viện do nhiễm trùng hô hấp nặng do RSV xảy ra ở trẻ em dưới 6 tháng.
- Trẻ em dưới 2 tuổi bị bệnh phổi mạn tính hoặc bệnh tim bẩm sinh.
- Trẻ em bị suy giảm hệ miễn dịch.
- Trẻ bị rối loạn thần kinh cơ, bao gồm cả trẻ khó nuốt hoặc khó tiết dịch nhầy.
Ngoài ra: Người già trên 65 tuổi, người lớn bị bệnh tim hoặc phổi mạn tính, người lớn có hệ thống miễn dịch suy yếu.
3. Các dấu hiệu, triệu chứng nhiễm RSV
Các triệu chứng nhiễm RSV có thể giống cảm lạnh trong 1-3 ngày đầu, tuy nhiên bệnh có thể tiến triển nặng hơn sau vài ngày.
Các triệu chứng khởi đầu như:
Số mũi, hắt hơi
Giảm cảm giác thèm ăn
Ho, có thể tiến triển thành khò khè
Sốt, có thể sốt nhẹ hoặc sốt cao nhưng cũng thể không có sốt.

Trẻ nhiễm RSV có thể ho sau chuyển khò khè, thậm chí có thể có cơn ngưng thở khi bệnh chuyển nặng.
Khi tiến triển nặng:
Trẻ thường quấy khóc nhiều, kích thích
Giảm hoạt động, ăn bú kém, thậm chí có thể có các cơn ngưng thở
Viêm tiểu phế quản cấp, viêm phổi là các bệnh thường gặp ở trẻ bệnh nặng do nhiễm RSV.
Các báo cáo cho thấy khoảng 2% trẻ dưới 6 tháng sẽ phải nhập viện vì RSV, những trường hợp nhập viện có thể được phải thở oxy hoặc thở máy. Rất may hầu hết trẻ được chăm sóc tốt sẽ ổn hơn sau vài ngày điều trị.
4. RSV gây bệnh hô hấp lây nhiễm ra sao?
Cũng giống như nhiều virus gây bệnh đường hô hấp khác, RSV có thể lây lan khi:
- Người bị bệnh ho hoặc hắt hơi phát tán virus ra môi trường.
- Trẻ bị nhiễm các giọt chứa virus khi người bệnh ho hoặc hắt hơi vào mắt, mũi hoặc miệng.
- Trẻ chạm vào bề mặt có virus, như nắm cửa, đồ chơi sau đó đưa tay lên mắt mũi miệng trước khi rửa tay sạch. Virus có thể tồn tại trên các bề mặt hoặc đồ vật trong khoảng 4 đến 7 giờ.
- RSV lây khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết của người nhiễm thông qua thơm hôn hoặc mớm thức ăn...
Trẻ em thường tiếp xúc và bị nhiễm RSV bên ngoài nhà, chẳng hạn như ở trường học hoặc khu vui chơi, trung tâm chăm sóc trẻ em... Sau đó, trẻ có thể truyền virus cho các thành viên khác trong gia đình.

Nhiễm RSV khiến cho nhiều trẻ nhỏ phải nhập viện vì thế cần phải thực hiện biện pháp phòng ngừa lây nhiễm.
5. Làm sao để phòng lây nhiễm RSV?
Cũng giống như COVID-19, con đường lây nhiễm của RSV cũng gần tương tự, nguyên tắc 5K trong phòng lây nhiễm COVID-19 có hiệu quả với mọi loại virus gây bệnh đường hô hấp.
Các điều cha mẹ, người thân, người chăm sóc trẻ cần lưu ý để hạn chế lây nhiễm RSV như:
- Rửa tay thường xuyên: Hướng dẫn trẻ rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sạch trong ít nhất 20 giây. Nếu không có xà phòng và nước, hãy sử dụng nước sát khuẩn tay nhanh. Cha mẹ, người lớn cần rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và cho trẻ ăn, trước và sau khi chăm sóc trẻ bị ốm khác...
- Tránh chạm vào mắt, mũi và miệng bằng tay chưa rửa sạch.
- Tránh tiếp xúc gần với người bệnh: Tránh tiếp xúc gần, chẳng hạn như hôn, dùng chung cốc hoặc dụng cụ ăn uống với những người có các triệu chứng giống như cảm lạnh.
- Che miệng và mũi khi ho và hắt hơi: Che miệng và mũi bằng khăn giấy hoặc tay áo ở khuỷu khi ho hoặc hắt hơi. Vứt khăn giấy vào thùng rác có nắp sau đó.
- Làm sạch và khử trùng bề mặt: Làm sạch và khử trùng các bề mặt và đồ vật mà mọi người thường xuyên chạm vào như đồ chơi, tay nắm cửa và thiết bị di động... Khi người bị nhiễm RSV chạm vào các bề mặt và đồ vật, họ có thể để lại virus. Ngoài ra, khi họ ho hoặc hắt hơi, các giọt chứa virus có thể rơi xuống các bề mặt và đồ vật.
- Khi bạn bị bệnh: Nếu có thể, hãy ở nhà không đến cơ quan, trường học và các khu vực công cộng. Tránh tiếp xúc gần không an toàn với người có nguy cơ cao, đeo khẩu trang khi cần thiết... Điều này sẽ giúp bảo vệ người khác trong đó có trẻ em khỏi mắc bệnh của bạn.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Virus RSV ở trẻ nhỏ nguy hiểm thế nào?
Mùa hè với những đợt nắng nóng gay gắt luôn mang theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe, trong đó sốc nhiệt (say nắng) là tình trạng cấp cứu nguy hiểm nhất. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, người bệnh có thể phải đối mặt với những biến chứng nặng nề. Để giúp bạn chủ động bảo vệ bản thân và những người thân yêu, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin được chia sẻ những thông tin hữu ích và các bước xử trí đúng cách ngay sau đây.
68% lao động tự do làm việc ngoài trời có ít nhất một triệu chứng cơ - xương - khớp sau mỗi ngày làm việc, 33% biểu hiện lo âu từ nhẹ đến rất nặng, theo nghiên cứu công bố hôm 14/8.
Có tới 95,4% lao động tự do ngoài trời được khảo sát phải làm việc dưới nắng nóng, nhưng chỉ 19,1% có thể ngừng việc khi nhiệt độ gay gắt. Biến đổi khí hậu đang tạo sức ép kép lên sức khỏe và sinh kế của một lực lượng lao động lớn, trong khi cơ chế bảo vệ vẫn còn những khoảng trống.
Mùa hè đến mang theo tiếng gọi của biển xanh và những chuyến đi nghỉ dưỡng tuyệt vời. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm làn da phải đối mặt với thử thách từ ánh nắng mặt trời gay gắt, gió biển và nước muối mặn, dẫn đến tình trạng đen sạm, bỏng rát hay kích ứng da. Nhằm giúp bạn bảo vệ làn da trọn vẹn trong kỳ nghỉ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về 5 sai lầm phổ biến nhất hủy hoại làn da khi đi biển và cách khắc phục ngay dưới đây.
Không ít người trên 50 tuổi than phiền rằng ăn ít hơn nhưng không giảm cân, thậm chí vòng bụng còn tăng. Nguyên nhân không đơn thuần nằm ở lượng thức ăn, mà còn liên quan đến những thay đổi tự nhiên của quá trình lão hóa và mức độ hoạt động thể lực.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Ngày 8/8/2026, tại Nha Trang, Hội Dinh dưỡng Việt Nam phối hợp cùng Viện Pasteur Nha trang và Hội Quân dân Y đã tổ chức Hội thảo khoa học Dinh dưỡng lâm sàng và Tiết chế khu vực miền Trung và Tây Nguyên 2026 với chủ đề “Dinh dưỡng hợp lý với bệnh nhiễm trùng” với sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ chuyên ngành dinh dưỡng, ngành truyền nhiễm, đại diện cơ sở đào tạo y học, các bệnh viện khu vực miền Trung và Tây Nguyê
Xì hơi là một phần bình thường của quá trình tiêu hóa. Hầu hết các trường hợp xì hơi thường xuyên đều liên quan đến thức ăn hoặc thói quen ăn uống. Nhưng nếu tần suất xì hơi đột nhiên thay đổi hoặc đi kèm với các triệu chứng khác, đó có thể là dấu hiệu của một vấn đề tiêu hóa tiềm ẩn.