Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Virus RSV ở trẻ nhỏ nguy hiểm thế nào?

Virus hợp bào hô hấp (RSV) gây nhiễm trùng phổi và đường hô hấp – nguyên nhân hàng đầu gây mắc các bệnh về đường hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Có tới 90% trẻ em nhiễm loại virus này trong 2 năm đầu đời.

Virus hợp bào hô hấp là gì?

Virus hợp bào hô hấp RSV (respiratory syncytial virus) là một trong những nguyên nhân gây bệnh đường hô hấp (như viêm tiểu phế quản) thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ với khả năng lây lan rất mạnh. Hầu hết trẻ em đều có khả năng nhiễm loại virus  này ở độ tuổi từ 2-3 tuổi trong mùa dịch RSV là từ tháng 11 đến tháng 4, khi virus hoạt động mạnh nhất. Trong đa số các trường hợp, trẻ sẽ chỉ bị nhiễm trùng nhẹ và không cần thiết phải can thiệp y tế.

RSV có thể lây lan qua đường tiếp xúc trực tiếp từ:

  • Dịch tiết mũi, họng của người bệnh
  • Những mô vết thương hở, bề mặt hở, quần áo và đồ chơi của người bệnh
  • Tay của người bệnh chưa được rửa sạch

RSV có thể tồn tại trên bề mặt của các đồ vật cứng tới hơn 6 tiếng. Nó cũng có thể sống trên quần áo và trên bàn tay cho tới 1 giờ. Một người sau khi bị nhiễm virus có thể sau 2-8 ngày mới biểu hiện triệu chứng.

Các triệu chứng của nhiễm RSV

  • Ho
  • Sổ mũi
  • Sốt
  • Thở khò khè

Do các triệu chứng trên khá phổ biến nên nhiễm RSV rất dễ bị nhầm lẫn với nhiễm cúm hay các loại virus khác. Trong hầu hết trường hợp, bạn có thể chăm sóc trẻ bị nhiễm RSV tại nhà miễn là trẻ vẫn có thể hô hấp bình thường, da trẻ không bị xanh tái và trẻ vẫn uống nước và đi tiểu bình thường. Bệnh thường kéo dài trong khoảng vài ngày. Đối với người trưởng thành khỏe mạnh, nhiễm RSV không phải là căn bệnh nghiêm trọng. Tuy nhiên cần hết sức lưu ý để tránh lây nhiễm virus cho trẻ em.

Khi nào nhiễm RSV là nguy hiểm

Một số trẻ nhỏ có thể bị nhiễm RSV dạng nặng như viêm phổi hay viêm tiểu phế quản. Trong trường hợp này, trẻ cần được đi khám ngay lập tức.

Con bạn sẽ có nguy cơ cao nếu:

  • Trẻ sinh thiếu tháng (trước tuần 33 thai kỳ) và bị nhiễm virus khi dưới 6 tháng tuổi.
  • Trẻ dưới 2 tuổi đang mắc một số căn bệnh về phổi, bệnh tim bẩm sinh, hội chứng Down hay gặp một số vấn đề về miễn dịch.

Phòng tránh nhiễm RSV

Không cho trẻ tiếp xúc với khói thuốc lá. Khói thuốc sẽ làm tăng nguy cơ bị mắc các bệnh nhiễm trùng.

Bạn có thể giúp phòng tránh sự lây lan của virus RSV bằng các biện pháp sau:

  • Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch hay sử dụng dung dịch tiệt khuẩn có chứa cồn trước và sau khi tiếp xúc với trẻ.
  • Che miệng khi ho, hắt hơi bằng khăn giấy và vứt vào thùng rác kín sau khi sử dụng.
  • Tránh hôn hay tiếp xúc gần với trẻ khi bạn không được khỏe.
  • Không tiếp xúc với trẻ sinh non đang được chăm sóc trong bệnh viện nếu bạn bị ho, hắt hơi, sổ mũi hay sốt.
  • Hạn chế cho trẻ lại gần các đám đông và những người đang có những triệu chứng kể trên, đặc biệt trong mùa dịch RSV.
  • Làm sạch các bề mặt mà mọi thành viên thường tiếp xúc trong nhà, tiến hành thường xuyên hơn trong mùa dịch.

Những trẻ em có nguy cơ cao nhiễm RSV cần được sử dụng thuốc trong mùa dịch

Một người bình thường có khả năng bị nhiễm RSV nhiều lần trong đời. Hiện chưa có vaccine phòng bệnh cho cộng đồng. Tuy nhiên một loại thuốc có thể giúp dự phòng trường hợp nhiễm RSV trở nên nghiêm trọng hơn và có thể được sử dụng cho đối tượng trẻ nhỏ có nguy cơ cao bị nhiễm RSV (nếu có chỉ định của bác sỹ) đó là palivizumab (biệt dược là Synagis). Trường hợp này gọi là dự phòng RSV. Thuốc được sử dụng dưới dạng tiêm bắp, thuốc này không ảnh hưởng gì đến các loại vaccine khác mà trẻ sử dụng. Cơ chế hoạt động của thuốc là  làm tăng lượng kháng thể chống lại virus RSV, làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một liều palivizumab có tác dụng kéo dài khoảng 30 ngày. Như vậy, mỗi tháng trẻ sẽ cần tiêm một mũi thuốc cho tới hết mùa dịch. Nếu bạn bỏ qua mũi tiêm tiếp theo, trẻ sẽ không được bảo vệ khỏi virus và có thể bị nhiễm bệnh.

Các tác dụng phụ tương đối hiếm gặp

Tác dụng phụ phổ biến nhất của palivizumab đó là sốt, phát ban, sưng đỏ tại vị trí tiêm. Các phản ứng dị ứng nặng hiếm khi xảy ra. Hãy hỏi bác sỹ để biết được các thông tin khác về thuốc.

Điều trị khi trẻ bị nhiễm RSV

Khi trẻ đã bị nhiễm bệnh do virus RSV, biện pháp điều trị chủ yếu là giảm nhẹ các triệu chứng. Lưu ý không sử dụng kháng sinh vì kháng sinh không hề có tác dụng gì đối với virus.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những việc cần làm khi trẻ bị nghẹt mũi

Ts.Bs.Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Tổng hợp từ Aboutkidshealth
Bình luận
Tin mới
  • 14/10/2026

    U dây thần kinh thính giác

    U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!

  • 13/10/2026

    Bí quyết phòng ngừa đột quỵ ở người cao tuổi khi trời lạnh

    Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.

  • 13/10/2026

    Nguy cơ khi hiến tế bào gốc từ máu và tủy xương bạn cần biết

    Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!

  • 12/10/2026

    Chăm sóc và phục hồi làn da bị cước, nẻ gót tay chân ở trẻ nhỏ

    Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.

  • 12/10/2026

    Cách giúp đậu dễ ​​tiêu hóa hơn

    Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.

  • 11/10/2026

    Thói quen đọc sách giúp giảm nguy cơ bệnh Alzheimer

    Làm thế nào để giữ cho trí óc luôn minh mẫn và nhạy bén khi tuổi tác ngày một tăng? Câu trả lời có thể đơn giản nằm ngay trên những trang sách. Đọc sách không chỉ là một hình thức giải trí tuyệt vời mà còn là bài tập hoàn hảo cho não bộ, giúp duy trì sức khỏe tinh thần, bảo vệ trí nhớ và đặc biệt là giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.

  • 11/10/2026

    Ăn mỡ lợn giảm cân hay tăng cân?

    Mỡ lợn lâu nay bị coi là 'thủ phạm' gây tăng cân. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy chuột ăn mỡ lợn tích lũy mỡ thấp hơn dầu thực vật. Đâu là sự thật?

  • 11/10/2026

    Cảnh giác bệnh đường hô hấp mùa giao mùa

    Giao mùa là thời điểm chuyển giao giữa hai mùa trong năm, khi nhiệt độ, độ ẩm, và hướng gió thay đổi thất thường. Đây cũng chính là giai đoạn mà cơ thể con người dễ bị “sốc nhiệt” – khi chưa kịp thích nghi với điều kiện thời tiết mới. Chính vì vậy, thời điểm này luôn là “cao điểm” của các bệnh lý về đường hô hấp, đặc biệt là ở trẻ em, người cao tuổi và người có hệ miễn dịch yếu. Nếu không chuẩn bị kỹ, các bệnh này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe mà còn có thể bùng phát thành dịch, lây lan nhanh trong cộng đồng.

Xem thêm