Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể biểu hiện theo nhiều cách. Một trong số các nguyên nhân gây là do vi khuân asymptomatic bacteriuria là loại vi khuẩn được tìm thấy trong nước tiểu nhưng không gây ra triệu chứng lâm sàng của nhiễm trùng. Với hầu hết những trường hợp nhiễm vi khuẩn này thì không cần điều trị.
Một nguyên nhân khác là viêm thận, nguy hiểm hơn và là chủ đề của bài viết này. Ngoài ra nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu còn là vi khuẩn đường niệu có triệu chứng còn gọi là viêm nang, khi hầu hết mọi người đều nghĩ đến khi nói về nhiễm trùng đường tiết niệu. Triệu chứng của viêm nang bao gồm đau khi đi tiểu, nước tiểu đục, và khẩn cấp.
Với viêm thận, vi khuẩn di chuyển từ niệu đạo qua bàng quang và niệu quản đến thận. May mắn thay, viêm thận liên quan đến thận rất hiếm.
Dưới đây là những triệu chứng điển hình của viêm thận:
Chẩn đoán lâm sàng của viêm thận dựa trên tiền sử và thăm khám lâm sàng cũng như kết quả xét nghiệm từ xét nghiệm chấn đoán như phân tích nước tiểu và cấy nước tiểu.
Không giống như viêm bàng quang cấp không biến chứng, nếu bác sỹ nghi ngờ bạn bị viêm đài bể thận thì bạn sẽ cần cấy nước tiểu. Tuy vậy, các chẩn đoán hình ảnh như siêu âm hoặc chụp CT có thể được sử dụng để xem hình ảnh của viêm bổ thận
Yếu tố nguy cơ của viêm đài bể thận cũng tương tự như yếu tố nguy cơ của viêm nhiễm đường tiết niệu và bao gồm có nhiều bạn tình, tăng hoạt động tình dục, có bạn tình mới và một tiền sử bị viêm đường tiết niệu tái phát nhiều lần.
Điều trị viêm đài bể thận cũng tương tự như điều trị viêm bàng quang cấp. Tuy nhiên, viêm đài bể thận thường gặp do vi khuẩn kháng kháng sinh hơn viêm bàng quang cấp bao gồm E.coli kháng lại Bactrim. Do đó điều trị viêm đài bể thận thường bắt đầu bằng kháng sinh phổ rộng như ciprofloxacin, và phụ thuộc vào mức độ gây bệnh của vi khuẩn có thể sử dụng phối hợp nhiều kháng sinh hoặc kháng sinh mạnh như carbapenem.
Hầu hết những người có viêm đài bể thận không phức tạp có thể được điều trị trên lâm sàng. Định nghĩa không phức tạp có nghĩa là bệnh nhân không có bất thường về cấu trúc đường tiết niệu sinh dục, không phải đặt dụng cụ như ống thông tiểu và không mang thai. Những người được điều trị viêm đài bể thận không phức tạp nên có khả năng dung nạp dịch và thuốc đường miệng.
Những người có viêm đài bể thận phức tạp, viêm đài bể thận tái diễn hoặc xuất hiện đồng thời nhiều bệnh, ví dụ như tiểu đường hoặc bệnh hồng cầu hình liềm, nên được điều trị tại bệnh viện.
Trong khi ở bệnh viện, những người này thường được truyền kháng sinh đường tĩnh mạch.
Ngoài kháng sinh, một người mắc viêm đài bể thận có thể nhận thuốc giảm đau và promethazine cho nôn và buồn nôn.
Điều trị viêm đài bể thận không phức tạp kéo dài 7 ngày. Viêm đài bể thận phức tạp hoặc trường hợp nghiêm trọng có thể được điều trị trong 14 ngày.
Viêm đài bể thận xâm lấn nhiều hơn viêm bàng quang cấp, giữa 20-30% bệnh nhân viêm đài bể thận có tiến triển nhiễm trùng máu. Biến chứng khác của viêm đài bể thận bao gồm hoại tử vỏ thận và viêm bể thận, nơi thận bị tổn thường và khí tích tụ trong thận. Những biến chứng này có thể dẫn đến suy thận.
Cuối cùng là những bước bạn có thể thực hiên để dự phòng viêm đài bể thận và viêm nhiễm đường tiết niệu:
Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.
Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.