Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Những chất hóa học làm sụt giảm mức vitamin D

Có thể bạn đã biết vitamin D quan trọng với sức khỏe như thế nào. Nếu bạn bị thiếu vitamin D, bạn sẽ bị tăng nguy cơ trầm cảm, đãng trí, bệnh tim, ung thư và rất nhiều những vấn đề sức khỏe khác có thể khiến bạn lo lắng cả đêm.

Tin tồi tệ là, một số chất hóa học rất phổ biến – thành phần trong mĩ phẩm, sản phẩm tẩy rửa, bao bì thực phẩm – có thể làm giảm lượng vitamin D của bạn – đặc biệt nếu bạn là nữ. 

Khảo sát mẫu nước tiểu của hơn 4.000 người trưởng thành cho thấy những người có mức phthalate và bisphenol A (BPA) cao nhất thì có mức vitamin D thấp. Cụ thể, phụ nữ có BPA hay phthalate tăng trong nước tiểu có nhiều nguy cơ thiếu hụt vitamin D hơn.

Trong khi cơ chế tác động của những chất này với vitamin D chưa rõ ràng thì có nhiều giả thuyết đưa ra.

Cả BPA và phthalate có thể làm gián đoạn enzyme tiêu hóa và chuyển hóa giúp thay đổi vitamin D sang dạng cơ thể dễ tiêu thụ. Cũng có thể những chất hóa học này làm mất cân bằng canxi trong cơ thể, từ đó hạn chế tác động của vitamin D. Tuy nhiên cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để đánh giá kĩ hơn mối quan hệ nhân quả - bao gồm tại sao những chất hóa học này ảnh hưởng đến phụ nữ làm giảm vitamin D nhiều hơn nam giới.  

Phthalates và BPA gần đây hay được truyền thông nhắc đến. Cả hai chất này đều làm gián đoạn nội tiết, tức là chúng gây cản trở đến cơ chế sản xuất hay điều hòa hormon.

Phthalates là dòng hóa học được sử dụng để tăng tính dẻo dai của những vật chứa bằng nhựa và các vật liệu khác. Chúng cũng được bổ sung vào các sản phẩm chăm sóc cá nhân để lưu hương. Nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa phthalate với tiểu đường, ung thư vú và béo phì.

BPA được sử dụng trong thành lon hoặc hộp đựng thực phẩm bằng nhựa cũng như ở trong nhiều đồ nhựa cứng. Nó liên quan đến bệnh tim, chứng bồn chồn và một loạt các bệnh khác.  

Vậy cho dù những chất này không làm lượng vitamin D bị thiếu hụt, bạn vẫn nên cẩn thận với chúng. Để có thể kiểm soát phơi nhiễm với các chất này không dễ. Những chất này có ở mọi nơi. Tuy nhiên, có thể giảm tiếp xúc bằng cách hạn chế sử dụng sản phẩm chứa trong đồ nhựa, hãy tìm những nguyên liệu tự nhiên thay thế cho sản phẩm chăm sóc cá nhân, hạn chế tiêu thụ thức ăn chế biến quá nhiều và thức ăn đống hộp.

Điều cơ bản là cố gắng mua và tiêu thụ những thực phẩm tươi không đóng hộp khi có thể (thậm chí lon hoặc đồ nhựa không chứa BPA cũng không tốt cho sức khỏe của bạn). Có nhiều sản phẩm lau chùi nhà cửa ‘xanh’ không độc hại có thể giúp giảm tiếp xúc nhiều với chất hóa học. Lựa chọn mĩ phẩm và các sản phẩm chăm sóc cơ thể không hương liệu cũng giúp bạn tránh phthalates. 

Mặc dù bạn có thể bổ sung vitamin D qua việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, nhưng chế độ ăn và thuốc bổ có thể khắc phục việc thiếu vitamin. Hiện chưa rõ nếu tăng lượng vitamin D thì tình trạng phthalate và BPA cản trở tổng hợp vitamin có được cải thiện hay không. Cách tốt nhất là vẫn nên giảm tiếp xúc với những chất hóa học này.

Ngọc Dung - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Theo Prevention
Bình luận
Tin mới
  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

Xem thêm