Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Sàng lọc virus varicella-zoster khi mang thai

Virus varicella-zoster (VZV) là một loại virus thuộc họ herpes, có thể gây bệnh thủy đậu và zona. VZV không thể sống, sinh sôi và gây bệnh ở bất cứ đâu trừ cơ thể người. Phụ nữ có thai bị nhiễm thủy đậu có thể gây nhiều biến chứng phức tạp. Hãy cùng tìm hiểu nhé.

Virus varicella-zoster (VZV) có khả năng lây nhiễm cao từ người này sang người khác. Virus có thể lây truyền trực tiếp từ người bị bệnh sang người lành qua chất tiết đường hô hấp như các giọt bắn nhỏ khi người bệnh ho, hắt hơi.

Những phụ nữ mang thai đã bị bệnh hoặc nhiễm virus hoặc tiêm phòng trước đó sẽ có miễn dịch. Tuy nhiên, những người chưa bao giờ nhiễm bệnh hay tiêm phòng sẽ không có miễn dịch với virus, do vậy sẽ có nguy cơ cao bị các biến chứng nếu nhiễm VZV trong thời kỳ mang thai.

Virus này có thể gây ra nhiều dị tật bẩm sinh, vì vậy, các bác sĩ thường chỉ định làm các xét nghiệm máu để sàng lọc nhiễm VZV ở những phụ nữ mang thai nghi ngờ mắc bệnh hoặc chưa có miễn dịch với virus. Các xét nghiệm này thường được thực hiện trước khi mang thai hoặc giai đoạn đầu của thai kì. Việc xét nghiệm sàng lọc được thực hiện sớm sẽ giúp điều trị kịp thời, hạn chế mức độ nặng và biến chứng của bệnh.

Một virus nhưng gây ra 2 loại nhiễm trùng

VZV có thể gây ra thủy đậu và zona.

Bệnh thủy đậu thường xảy ra ở trẻ nhỏ, gây ngứa, ban đỏ dạng mụn nước trên da. Bạn có thể chỉ bị thủy đậu một lần do cơ thể sẽ sản xuất ra các kháng thể chống lại virus. 

Tuy nhiên, sau lần bị thủy đậu, những virus này có thể vẫn còn tồn tại trong cơ thể và tái hoạt động một số lần sau đó, gây ra bệnh zona. Bệnh zona thường gây đau và nổi mụn nước nhưng ít nghiêm trọng cho bản thân người đó so với thủy đậu, bởi cơ thể đã có các kháng thể chống lại virus. Nhưng nếu một ai đó chưa từng bị thủy đậu mà tiếp xúc với dịch tiết ở các nốt bọng nước zona, họ có thể bị thủy đậu thay vì bị zona.

Triệu chứng

Biểu hiện của bệnh Thủy đậu

Thời kì ủ bệnh của VZV từ 10-14 ngày.

Triệu chứng thường gặp là xuất hiện các chấm nhỏ, màu đỏ. Các chấm này lớn dần lên và chứa đầy dịch, lúc đầu dịch thường có màu trong, sau đó chuyển sang đục (nếu bị nhiễm trùng) hoặc có máu (nếu có xuất huyết), sau đó vỡ ra và để lại vảy cứng. Mụn nước thường bắt đầu trên mặt hoặc thân mình và nhanh chóng lan đến cánh tay và chân. 

Các triệu chứng khác của bệnh bao gồm sốt, mệt mỏi, và đau đầu.

Những người bị thủy đậu bắt đầu có khả năng lây nhiễm cho người khác khoảng 1-2 ngày trước khi mụn nước xuất hiện và kéo dài cho đến khi tất cả các mụn nước đã được hình thành và đóng vảy.

Có thể mất 2 tuần hoặc lâu hơn cho những vết loét biến mất.

Biểu hiện của Zona

Nếu virus tái hoạt động thì có thể gây ra zona. Bệnh biểu hiện bằng các mụn nước đỏ và đau, mọc thành chùm ở một bên thân mình. Mụn nước thường xuất hiện sau khi phát ban 1-5 ngày. Bạn có thể cảm thấy ngứa, tê bì, đau rát và rất nhạy cảm ở vùng tổn thương.

Những triệu chứng khác của zona bao gồm:

  • Sốt
  • Cảm giác khó chịu, bứt rứt
  • Đau cơ
  • Đau đầu
  • Sưng hạch bạch huyết
  • Nôn nao, khó chịu ở dạ dày

Nguy cơ của nhiễm VZV khi mang thai

Phụ nữ từng bị nhiễm thủy đậu trước khi mang thai hoặc đã được tiêm phòng bệnh thủy đậu sẽ có kháng thể chống lại VRV, do vậy có miễn dịch với bệnh . Vì vậy khi mang thai, những phụ nữ này sẽ không lo ngại về biến chứng của bệnh với bản thân họ và thai nhi.
Những phụ nữ mang thai chưa có kháng thể chống VZV trong người (chưa bao giờ mắc bệnh thủy đậu hoặc chưa tiêm phòng thủy đậu) sẽ có nguy cơ bị biến chứng khi nhiễm thủy đậu. Khoảng 10-20% các trường hợp thai phụ nhiễm thủy đậu sẽ bị viêm phổi và nguy cơ tử vong ở những người này lên tới 40%, theo một số nghiên cứu. Một tỉ lệ nhỏ thai phụ nhiễm thủy đậu có thể bị viêm não. 

Phụ nữ có thai nếu nhiễm thủy đậu nguyên phát khi mang thai (chưa bao giờ mắc bệnh thủy đậu hoặc chưa tiêm phòng thủy đậu) có thể lây truyền thủy đậu cho con của họ qua nhau thai. Nguy cơ của đứa trẻ tùy thuộc vào thời gian nhiễm bệnh của người mẹ:

  • Nếu mẹ bị nhiễm virus trong 12 tuần đầu tiên của thai kì, đặc biệt là trong tuần 8  đến 12, khoảng 0,5 - 1,0% trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh hiếm gặp gọi là hội chứng thủy đậu bẩm sinh. Biểu hiện thường gặp nhất của hội chứng thủy đậu bẩm sinh là: sẹo ở da, tật đầu nhỏ, bệnh lý võng mạc, đục thủy tinh thể, nhẹ cân, chi ngắn, chậm phát triển tâm thần.
  • Nếu mẹ bị nhiễm virus trong 3 tháng giữa của thai kỳ, đặc biệt là tuần thai từ 13 đến 20, tỉ lệ trẻ sinh ra bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh tăng lên mức 2%.
  • Nếu người mẹ nhiễm bệnh trong vòng 5 ngày trước sinh và 2 ngày sau sinh, bé sơ sinh dễ bị bệnh thủy đậu bẩm sinh do mẹ chưa có đủ thời gian tạo kháng thể truyền cho thai nhi trước sinh. Tỉ lệ tử vong bé sơ sinh lúc này có thể lên đến 25 - 30% số trường hợp bị nhiễm. 

Bởi vì những nguy cơ trên, việc hạn chế tối thiểu nguy cơ nhiễm trùng VZV khi mang thai là hết sức cần thiết. Bạn có thể cần được sàng lọc VZV khi mang thai.

Nếu bạn phơi nhiễm với virus khi mang thai và chưa có miễn dịch trước đó, bạn cần đến bác sĩ ngay lập tức. Bác sỹ có thể tiêm cho bạn globulin miễn dịch với VZV  là VZIG trong đó chứa kháng thể chống lại virus. Nếu bạn được tiêm trong vòng 10 ngày sau khi bị phơi nhiễm, bạn có thể phòng được thủy đậu hoặc làm giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh, giảm nguy cơ biến chứng cho cả bạn và thai nhi.

Tuy nhiên bạn cần nhớ VZIG KHÔNG phòng ngừa được nhiễm trùng bào thai, hội chứng thủy đậu bẩm sinh và cả bệnh thủy đậu bẩm sinh. Đối với trẻ sơ sinh, để dự phòng biến chứng cần phải tiêm VZIG cho trẻ sơ sinh khi bị mắc thủy đậu bẩm sinh.

Cách xử trí khi thai phụ bệnh thủy đậu

Thai phụ cần được nghỉ ngơi, uống nhiều nước, ăn thức ăn lỏng dễ tiêu hóa, nếu sốt có thể dùng thuốc hạ sốt paracetamol. Giữ vệ sinh thân thể, tránh làm vỡ những bóng nước vì có nguy cơ bội nhiễm. 

Đối với thai phụ nhiễm bệnh thủy đậu diễn tiến nặng có nguy cơ viêm phổi nên được điều trị kịp thời trong bệnh viện và có thể được dùng Acyclovir đường tĩnh mạch để giảm nguy cơ cho cả mẹ và thai. Acyclovir có vai trò ức chế sự phát triển của virus nên ức chế sự phát triển của bệnh.

Phòng bệnh

Hãy hỏi bác sĩ về việc tiêm vắc xin phòng thủy đậu nếu bạn có ý định mang thai mà chưa từng bị thủy đậu hay chưa tiêm chủng trước đó.

Tuân thủ theo đứng hướng dẫn của bác sỹ về thời gian tiêm phòng thủy đậu. Phải đảm bảo chắc chắn mũi vắc xin thứ hai phải được tiêm trước khi có thai ít nhất 3 tháng.

Nếu bạn không chắc chắn mình đã có miễn dịch với thủy đậu chưa, hãy nói với bác sỹ để bác sỹ có thể cho bạn làm xét nghiệm máu để xác định lượng kháng thể của bạn với virus.

Điều quan trọng khi bạn dự định có thai hoặc đang mang thai là cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với những người đang bị thủy đậu. Nếu bạn sống trong vùng đang có dịch thủy đậu, hãy hạn chế tiếp xúc ở những nơi đông người, đặc biệt là ở nhà trẻ hoặc trường học, nơi có nhiều trẻ em mắc bệnh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sàng lọc trước sinh
Ths.Bs.Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 12/03/2026

    Cách giảm mỡ mặt - 8 mẹo hiệu quả giúp khuôn mặt thon gọn tự nhiên

    Bạn đang cảm thấy tự ti với đôi má bánh bao, nọng cằm hay vùng cổ kém thon gọn? Bạn không đơn độc. Mặc dù trên thị trường có rất nhiều loại đai định hình hay thiết bị massage được quảng cáo là "thần dược" giúp mặt thon gọn, nhưng thực tế có rất ít bằng chứng khoa học ủng hộ các phương pháp này.

  • 11/03/2026

    Tăng cường miễn dịch như thế nào cho đúng cách?

    Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.

  • 11/03/2026

    4 nguồn thực phẩm bù đắp lượng vitamin D bị thiếu hụt trong mùa đông

    Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.

  • 11/03/2026

    Đau thần kinh tọa vào mùa đông

    Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.

  • 10/03/2026

    Thảo mộc và các bệnh mạn tính không lây

    Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.

  • 10/03/2026

    Ăn chất béo từ các loại hạt giúp giảm cân hiệu quả, vì sao?

    Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.

  • 10/03/2026

    Các nguyên nhân gây ợ nóng thường gặp

    Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).

  • 09/03/2026

    6 loại trái cây có chỉ số đường huyết thấp tốt cho người bệnh tiểu đường

    Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.

Xem thêm