Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Phòng chống bệnh thủy đậu - Phần 1

Thủy đậu là một bệnh lây truyền gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh có thể chủ động phòng tránh được bằng tiêm vaccine.

Mặc dù thủy đậu có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng trẻ em dễ mắc bệnh nhất. Bệnh có tính chất lây lan cao và được đặc trưng bởi dấu hiệu sốt và các mụn nước nhỏ trong hoặc màu trắng đỏ trên mặt và cơ thể.

Bệnh tiến triển nặng hơn ở người lớn, có thể gây những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với phụ nữ có thai, làm thai chết lưu hoặc dị tật bẩm sinh ở trẻ. Bệnh thủy đậu có thể phòng tránh được bằng việc tiêm phòng vaccine.

Ảnh minh họa.

Bệnh thủy đậu khá phổ biến và hầu hết không quá nghiêm trọng, tuy nhiên bệnh có thể nguy hiểm ở những người có hệ miễn dịch suy yếu (ví dụ như trẻ sơ sinh, bệnh nhân xạ trị ung thư, bệnh nhân AIDS hay bệnh nhân dùng các loại thuốc như cortisone hay prednisolone). Bệnh có thể gây các biến chứng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong.

Nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố nguy cơ

Thủy đậu là một bệnh nhiễm trùng do một loại virus herpes có tên là Varicella Zoster gây nên. Bệnh thủy đậu lây lan từ người sang người qua con đường tiếp xúc trực tiếp, hay do tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh qua ho và hắt hơi. Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua tiếp xúc với những vật có chứa dịch tiết của người bệnh hoặc từ những vết mụn nước. Mụn nước đã đóng vảy khô không được coi là yếu tố lây truyền bệnh.

Trong vòng từ 10 đến 21 ngày sau khi tiếp xúc với người bị nhiễm bệnh, bạn có thể bị mắc thủy đậu. Một người đã bị nhiễm bệnh có thể lây bệnh trong khoảng thời gian bắt đầu từ 1 đến 2 ngày trước khi xuất hiện những nốt mụn nước, cho tới khoảng 1 tuần sau khi các nốt mụn nước ngừng xuất hiện và khô đi.

Khi đã mắc thủy đậu thì bạn sẽ có miễn dịch với căn bệnh này và rất hiếm khi mắc lại. Các virus vẫn tồn tại dưới dạng không hoạt động trong hệ thần kinh và có thể gây bệnh zona trong các điều kiện thuận lợi sau này.

Triệu chứng

Người bị thủy đậu thường có triệu chứng sốt cùng với xuất hiện các mụn nước trong hoặc màu trắng hoặc màu đỏ trên mặt và cơ thể. Những mụn nước này xuất hiện trong khoảng vài ngày sau đó có thể bị vỡ ra, khô lại và đóng thành vảy trước khi lành. Tại những vị trí mụn nước mọc thường ngứa và có thể để lại sẹo nếu không được chăm sóc tốt. 

Biến chứng

  • Nhiễm trùng da làm các vết mụn bị ửng đỏ, sưng phồng, có mủ hoặc máu.
  • Mất nước do nôn mửa hay không muốn uống nước. Tiểu ít, cảm giác buồn ngủ, môi miệng khô và rất khát nước.
  • Tổn thương về não do bị viêm não, triệu chứng biểu hiện là đau đầu, cứng cổ và lưng, hay nhầm lẫn, cảm giác khó chịu hay buồn ngủ.
  • Viêm phổi đặc trưng bởi các triệu chứng ho, thở khò khè, khó thở và đau tức ngực.
  • Viêm khớp với các dấu hiệu đau khớp, sưng và cứng khớp.

Điều trị

Ảnh minh họa.

Bệnh thường diến tiến nhẹ đối với trẻ em có sức khỏe tốt. Sử dụng thuốc kháng virus có thể làm giảm các triệu chứng đau ngứa, đặc biệt là trong vòng 24 giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng bệnh. Thuốc này có tác dụng làm giảm mức độ và thời gian nhiễm bệnh và tất nhiên làm giảm cả các biến chứng. Trẻ em không cần thiết phải sử dụng thuốc kháng virus. Người lớn nếu sử dụng thuốc ở giai đoạn sớm thì có thể mang lại hiệu quả tốt, đặc biệt là những đối tượng bị suy giảm miễn dịch.

Trẻ em bị mắc bệnh thủy đậu không được cho uống aspirin bởi có thể gây nên hội chứng Reye.

Mời đón đọc tiếp phần 2 tại website của Viện Y học ứng dụng Việt Nam: vienyhocungdung.vn

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều cần biết về vaccine thủy đậu cho trẻ em

Ths.Bs.Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm