Tiến sỹ - giáo sư trợ giảng Philippe Grandjean tại Trường Y tế công cộng thuộc Đại học Harvard T.H Chan và là biên tập viên sáng lập của Tạp chí Environmental Health thường kể câu chuyện về một người mẹ đã tiếp xúc với thủy ngân trong một thời gian dài và gây hại cho đứa con theo một cách ai không ngờ tới. Ông kể câu chuyện này cùng với một bức ảnh minh họa được chụp vào những năm 1950 của một phụ nữ người Nhật Bản chụp cùng với cậu con trai bị khuyết tật.
Ngày nay các nhà khoa học đã chứng minh rằng sự phát triển của thai nhi nhạy cảm với một số hóa chất hơn là bản thân người mẹ.
Tuy nhiên Grandjean lại nghiêng về một giả thiết khác về vấn đề phơi nhiễm với hóa chất. Ông khẳng định rằng việc cha mẹ tiếp xúc với hóa chất có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ ngay cả trong những trường hợp họ nghĩ là không thể. Trong một bài báo trên Tạp chí Endocrinology, Grandjean và cộng sự của mình đã cung cấp một bản tóm tắt các tài liệu về vấn đề này đã được họ trình bày tại hội nghị vào tháng mười. Tiến sỹ Maricel Maffini, một chuyên gia tư vấn về ảnh hưởng của môi trường với sức khỏe, người không liên quan đến nghiên cứu này cho rằng có những bằng chứng chứng minh việc tiếp xúc với hóa chất không chỉ là vấn đề của hiện tại mà nó còn ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai.
Khi cha mẹ phơi nhiễm với hóa chất, những hóa chất này có thể gây ảnh hưởng đến vấn đề di truyền ngoài gien, hay ảnh hưởng đến những tín hiệu bật, tắt của gien. Những thay đổi về di truyền này về sau sẽ được truyền lại cho thế hệ con cháu. Các hóa chất đã được liệt kê vào nhóm này bao gồm: bisphenol A (BPA), phthalate, dioxin và một số chất hữu cơ gây ô nhiễm. Rất nhiều những chất này là những chất gây rối loạn nội tiết hay có ảnh hưởng đến các hormone trong cơ thể.
Tiếp xúc với hóa chất trong một khoảng thời gian dài
TS.Grandjean viết trong một bức thư gửi cho Healthline: “Rất nhiều hóa chất từ môi trường tích lũy trong cơ thể trong một thời gian dài, đôi khi là tới vài năm. Sự tích tụ các hóa chất trong cơ thể có thể ảnh hưởng đến khả năng thụ thai hay ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi trong giai đoạn sau đó – và vẫn còn tiếp diễn đến thời kỳ sau sinh do các hóa chất này có thể tiết ra trong sữa mẹ khi trẻ bú.”
Ví dụ điển hình như tiếp xúc quá nhiều với phthalate, các chất hữu cơ khó phân hủy và BPA làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ. Bệnh ung thư cũng có liên quan đến việc tiếp xúc trong một thời gian dài với các chất gây rối loạn nội tiết tố. Chất BPA tương tác với progesterone trong cơ thể, góp phần làm tăng nguy cơ gây ung thư cho những bệnh nhân được kê progesterone vào giai đoạn sau mãn kinh.
Mặc dù vai trò của các hóa chất trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt vẫn còn khá mơ hồ do bệnh ung thư này có đáp ứng với androgen chứ không phải estrogen, nghiên cứu khoa học mới cho rằng những hóa chất làm rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến các tế bào gốc ung thư.
Các hướng đi mới để điều tiết vấn đề phơi nhiễm với hóa chất
Các tác giả cho rằng chính phủ Hoa Kỳ phải thay đổi cách thức quản lý nguồn hóa chất. Các test kiểm tra an toàn không nên chỉ tập trung vào những trường hợp phơi nhiễm với hóa chất nồng độ cao trong một thời gian ngắn mà cũng nên lưu ý đến những trường hợp tiếp xúc ít nhưng trong một thời gian dài.
Các mô hình test này cũng nên cân nhắc đến vấn đề liệu các hóa chất khác nhau có tương tác gây ảnh hưởng nguy hiểm như thế nào đến cơ thể hơn là chỉ quan tâm đến tổng lượng hóa chất có tiếp xúc.
Theo Maffini – chuyên gia trong lĩnh vực hóa thực phẩm: “Vào những thập niên 60, 70 có những loại chất phụ gia thực phẩm được chấp thuận sử dụng mà không qua kiểm tra. Khi bạn đọc bài báo này, bạn có thể thấy được khoa học đã tiến bộ đến mức độ nào kể từ thời điểm đó. Chúng ta không thể thực hiện những cuộc kiểm tra lạc hậu như những năm 50 được. Vấn đề này nên liên hệ mật thiết với những công nghệ khoa học hiện thời và những công nghệ này cần phải được sử dụng để sàng lọc những chất độc có gây hại đến sức khỏe con người.”
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.