Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Phân biệt hội chứng Hellp và gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ

Đây là hai bệnh cảnh lâm sàng dễ nhầm lẫn, Phân biệt được chúng giúp thầy thuốc có quyết định hợp lý.

Phân biệt hội chứng Hellp và gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ

Gan nhiễm mỡ cấp trong thai kỳ (acute fatty liver with pregnancy -   AFLP) là bệnh lý được mô tả lần đầu tiên vào năm 1940 bởi Sheehan. AFLP là bệnh lý hiếm gặp, tần suất 1/7.000-1/16.000 trường hợp mang thai, nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh. Bệnh lý này thường gặp ở các thai kỳ đa thai, phụ nữ có thai nhẹ cân (BMI < 20), và sinh con trai. AFLP đặc trưng bởi sự xâm nhập của mỡ vào các vi mạch máu của tế bào gan mà không có quá trình viêm nhiễm hay hoại tử.

Việc chẩn đoán sớm và quyết định sinh đúng thời điểm, có thể làm giảm tỉ lệ tử vong bà mẹ và trẻ sơ sinh đáng kể, với tỉ lệ 18% và 23% tương ứng. Cơ chế bệnh sinh của AFLP vẫn chưa được biết rõ. Hiện tại, chăm sóc hỗ trợ và sinh khẩn trương bất chấp tuổi thai vẫn là phương pháp điều trị tốt nhất.

Tiền sản giật là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ và chu sinh tại các nước đang phát triển. Weinstein mô tả hội chứng HELLP vào năm 1982, với 3 triệu chứng chính: tán huyết, gia tăng men gan và giảm tiểu cầu. Khoảng 4 - 18% bệnh nhân bị tiền sản giật sẽ tiến triển thành hội chứng HELLP.

Mối liên quan giữa AFLP và hội chứng HELLP vẫn chưa được biết rõ. Các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm rất hay bị nhầm lẫn khi mang thai. Tăng huyết áp và protein niệu là các triệu chứng chính của tiền sản giật cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị AFLP. Tương tự, tình trạng gan nhiễm mỡ cũng có thể gặp ở những bệnh nhân bị tiền sản giật. Một số tác giả cho AFLP và hội chứng HELLP là một bệnh lý như nhau, nhưng một số khác cho rằng hai bệnh lý này khác nhau do không có chung giải phẫu bệnh và mô bệnh học (lắng đọng fibrin và xuất huyết ở khoảng quanh cửa).

AFLP là bệnh lý hiếm gặp, tần suất 1/7.000 - 1/16.000 trường hợp mang thai, nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của thai phụ và trẻ sơ sinh

Mục tiêu của bài này sẽ giúp cho độc giả phân biệt hội chứng HELLP và AFLP dựa trên triệu chứng, xét nghiệm, biến chứng và kết cục của bà mẹ và trẻ sơ sinh.

Chẩn đoán hội chứng HELLP dựa trên triệu chứng lâm sàng của tiền sản giật và các rối loạn xét nghiệm, bao gồm: (1) hiện tượng tán huyết, kết quả phết tế bào máu ngoại biên bất thường, LDH > 600 IU/L, bilirubin toàn phần > 1,2 mg/dL; (2) tăng men gan, AST > 70 U/L, ALT > 50 U/L và (3) giảm tiểu cầu, tiểu cầu < 100.000/mcL. Trong khi đó, chẩn đoán AFLP chủ yếu dựa trên triệu chứng lâm sàng, biến chứng và các bằng chứng tổn thương gan cấp trong tam cá nguyệt III của thai kỳ, các tổn thương gan này sẽ biến mất trong thời gian hậu sản. Việc chẩn đoán chính xác và phân biệt 2 bệnh cảnh lâm sàng này vô cùng quan trọng, do cách xử trí mỗi bệnh cảnh lâm sàng là khác nhau.

Hầu hết bệnh nhân AFLP đến khám với triệu chứng mệt mỏi, buồn nôn/ nôn ói, đau bụng (đặc biệt vùng thượng vị) và vàng da. Đối với hội chứng HELLP, bệnh nhân đến khám do đau đầu, đau thượng vị hoặc hạ sườn phải và tiểu máu. Một số bệnh nhân sẽ có nhiều triệu chứng khác nhau. Theo bảng 1, chúng ta sẽ có dấu hiệu và triệu chứng thường gặp trong HELLP và AFLP.

Những thay đổi về xét nghiệm có thể thấy ở bảng 2. Cần chú ý ở hầu hết thai phụ bị AFLP sẽ có nồng độ fibrinogen thấp < 250 mg/dL, tăng bạch cầu > 22.000/mm3, nồng độ antithrombin III thấp, nồng độ glucose máu thấp < 60 mg/dL.

Biến chứng cho thai phụ và trẻ sơ sinh nặng nề hơn ở các bệnh nhân bị AFLP, bao gồm: suy thận, đông máu nội mạch lan tỏa, não gan, tăng tiết dịch vết mổ/ may tầng sinh môn và nhiễm trùng.
Qua ba bảng trên, chúng ta có thể phân biệt rõ ràng giữa AFLP và hội chứng HELLP. Khi có chẩn đoán xác định là AFLP, đa số tác giả đều khuyến cáo cho sinh bất chấp tuổi thai sau khi đã ổn định tình trạng của thai phụ.

Để ổn định tình trạng thai phụ, cần phải truyền glucose và các chế phẩm từ máu, như: huyết tương tươi đông lạnh, huyết tương kết tủa lạnh, hồng cầu lắng, tiểu cầu… để điều chỉnh tình trạng rối loạn đông máu và thiếu máu. Cần chú ý đến tổng dịch vào và ra do có hiện tượng giảm áp lực keo huyết tương, có thể dẫn đến phù phổi. Tình trạng hạ đường huyết rất thường gặp, do dó nên theo dõi glucose máu cho đến khi chức năng gan trở về bình thường.

Xét nghiệm chức năng gan và rối loạn đông máu sẽ trở về bình thường rất nhanh sau khi sinh. Đôi khi có thể gặp tình trạng chức năng gan và thận xấu thoáng qua một vài ngày đầu sau sinh.
AFLP có thể tái phát trong thai kỳ tới, tuy nhiên, cơ chế tái phát vẫn chưa được biết rõ. Do đó, các thai phụ đã từng mắc AFLP nên được tư vấn về nguy cơ mang thai lần sau và nên được theo dõi bởi một chuyên gia sản phụ khoa.

BS. Vũ Nhật Khang - Theo Bệnh viện Mỹ Đức
Bình luận
Tin mới
  • 02/10/2026

    5 lợi ích sức khỏe hàng đầu của đậu lăng

    Đậu lăng giàu vitamin, khoáng chất và chất xơ, mà không có chất béo hay cholesterol như thịt đỏ.

  • 02/10/2026

    Thời tiết lạnh và nguy cơ gia tăng bệnh tim mạch

    Thời tiết lạnh không chỉ khiến cơ thể dễ cảm cúm mà còn là “kẻ thù thầm lặng” của hệ tim mạch. Khi nhiệt độ xuống thấp, mạch máu co lại, huyết áp tăng, tim phải làm việc nhiều hơn – đặc biệt nguy hiểm với người cao tuổi và người có bệnh nền như tăng huyết áp hay mạch vành. Vì vậy, mùa đông là thời điểm cần đặc biệt chú ý đến việc bảo vệ tim mạch, giữ ấm và duy trì lối sống lành mạnh để phòng ngừa những biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.

  • 01/10/2026

    3 lỗi sai thường gặp khi đọc nhãn thành phần dinh dưỡng

    Đọc nhãn thành phần dinh dưỡng của sản phẩm trước khi mua là một kỹ năng cần thiết trong đời sống hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, nhiều người có thể vẫn gặp phải những sai lầm phổ biến, khi các thông tin trên bao bì có thể đánh lừa bởi quảng cáo. Dưới đây là 3 lỗi sai thường gặp nhất và làm thế nào để luôn tỉnh táo khi đọc nhãn thành phần dinh dưỡng của sản phẩm.

  • 01/10/2026

    Trung tâm Nghiên cứu – Viện Y học ứng dụng Việt Nam được tặng Bằng khen của Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

    Trung tâm Nghiên cứu – Viện Y học ứng dụng Việt Nam là một trong những tập thể được Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tặng Bằng khen vì đã có thành tích hành tích xuất sắc trong công tác giai đoạn 2024-2025.

  • 01/10/2026

    Lý do phụ nữ béo dễ mắc ung thư vú

    Thừa cân, béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Duy trì cân nặng khỏe mạnh giúp phụ nữ chủ động giảm nguy cơ.

  • 01/10/2026

    6 loại thực phẩm có thể giúp giảm các triệu chứng u xơ tử cung

    Chế độ ăn uống của bạn có thể ảnh hưởng đến các triệu chứng u xơ tử cung nhiều hơn bạn nghĩ. Thực phẩm giàu chất xơ, axit béo omega-3, vitamin D và sắt có thể giúp hỗ trợ kiểm soát các triệu chứng.

  • 30/09/2026

    Hormone leptin: hướng đi mới cho thuốc giảm cân

    Trong cuộc chiến chống lại béo phì, các loại thuốc mới hiện nay đang liên tục tạo ra những tiếng vang lớn, trở thành những công cụ đắc lực. Trong đó, một loại hormone được phát hiện từ 30 năm trước mang tên Leptin đang quay trở lại và hứa hẹn trở thành một vũ khí giúp tăng cường sức mạnh cho các liệu pháp giảm cân hiện tại.

  • 30/09/2026

    7 món ăn nhẹ tốt cho tim mạch nên ăn thường xuyên hơn

    Các món ăn nhẹ giàu dinh dưỡng tốt cho tim mạch có thể giúp giảm các yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim.

Xem thêm