Buồng trứng là các tuyến sinh sản nằm ở mỗi bên xương chậu chịu trách nhiệm tạo ra trứng. Buồng trứng cũng đóng vai trò là nguồn cung cấp hormone estrogen và progesterone chính cho cơ thể phụ nữ.
Nếu thỉnh thoảng bị đau ở buồng trứng, thường liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt của bạn. Tuy nhiên, đôi khi, đau buồng trứng có thể là dấu hiệu của một tình trạng bệnh lý tiềm ẩn.
1. Những nguyên nhân gây đau buồng trứng
1.1 Rụng trứng

Quá trình rụng trứng có thể gây đau buồng trứng.
Một số phụ nữ bị đau buồng trứng trong thời kỳ rụng trứng đều đặn mỗi tháng. Rụng trứng thường xảy ra vào giữa chu kỳ kinh nguyệt, vì vậy có thể cảm thấy đau nhất vào khoảng ngày thứ 14 hoặc lâu hơn, khi trứng được phóng ra khỏi buồng trứng và đi vào ống dẫn trứng.
Thông thường, phụ nữ sẽ cảm thấy khó chịu ở một bên xương chậu do buồng trứng đang giải phóng trứng. Cơn đau khi rụng trứng thường nhẹ, cảm giác như đau âm ỉ. Đôi khi, cơn đau sẽ dữ dội và đột ngột và cơn đau rụng trứng có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ.
Một số phụ nữ bị chảy máu hoặc tiết dịch trong quá trình rụng trứng. Những phụ nữ khác có thể bị đau kèm buồn nôn. Đau khi rụng trứng thường không có gì đáng lo ngại. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, đó có thể là dấu hiệu của các tình trạng sức khỏe khác, chẳng hạn như lạc nội mạc tử cung hoặc nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục. Cần gặp bác sĩ nếu cơn đau của bạn nghiêm trọng hoặc đáng lo ngại.
1.2. U nang buồng trứng
U nang buồng trứng là túi chứa đầy chất lỏng có thể hình thành trên bề mặt buồng trứng. Các loại u nang phổ biến nhất hình thành trong chu kỳ kinh nguyệt. Chúng được gọi là u nang chức năng và thường biến mất trong khoảng thời gian vài tuần hoặc vài tháng.
Ngoài ra còn có các loại u nang buồng trứng khác không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt như lạc nội mạc tử cung, u nang da, u nang tuyến.
Hầu hết các u nang buồng trứng là lành tính, có nghĩa là chúng không phải ung thư. Những người lớn tuổi, sau mãn kinh có nguy cơ u nang buồng trứng ác tính hoặc ung thư cao hơn.
Các u nang không gây đau ngay cả những u nang lớn cũng có thể không được chú ý trong thời gian dài. Khi có các triệu chứng có thể đau vùng chậu trong kỳ kinh, đau âm ỉ ở lưng dưới và đùi và đau khi quan hệ tình dục, chảy máu âm đạo bất thường, đau ngực, đi tiểu thường xuyên… U nang buồng trứng có thể phát triển lớn và có nguy cơ bị vỡ. U nang buồng trứng bị vỡ có thể gây chảy máu nặng. Phụ nữ cần đi khám ngay lập tức nếu thấy sốt, buồn nôn hoặc nôn, da lạnh hoặc ẩm, thở nhanh, người lâng lâng.
1.3. Lạc nội mạc tử cung
Một nguyên nhân khác gây đau buồng trứng có thể là do lạc nội mạc tử cung. Trong lạc nội mạc tử cung, mô tương tự như nội mạc tử cung, lớp lót bên trong tử cung, phát triển bên ngoài tử cung.
Nội mạc tử cung thường bong ra mỗi tháng theo chu kỳ kinh nguyệt. Tuy nhiên, khi mô tương tự phát triển bên ngoài tử cung, nó có thể bị mắc kẹt, hình thành mô sẹo và dính. Buồng trứng thường là một khu vực mà mô này phát triển.
Triệu chứng chính của lạc nội mạc tử cung là đau như đau bụng kinh, đau vùng chậu mạn tính hoặc đau lưng dưới, cơn đau xảy ra trong hoặc sau khi quan hệ tình dục, đi tiểu hoặc đi tiêu đau, thường tồi tệ hơn vào kỳ kinh, khó chịu đường tiêu hóa.
Đau lạc nội mạc tử cung khác nhau ở mỗi người, có người có thể cảm thấy khó chịu nhẹ, trong khi những người khác bị đau dữ dội, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống hàng ngày. Mức độ đau không nói lên mức độ lạc nội mạc tử cung. Vì có người bị đau dữ dội nhưng lại bị lạc nội mạc tử cung nhẹ.
Các triệu chứng khác của lạc nội mạc tử cung như mệt mỏi, buồn nôn, tiêu chảy, táo bón… Cần đi khám nếu có các triệu chứng phù hợp với bệnh lạc nội mạc tử cung. Lạc nội mạc tử cung khó chẩn đoán, vì vậy việc liên hệ sớm với bác sĩ có thể giúp bạn kiểm soát các triệu chứng.
1.4. Viêm vùng chậu

Phụ nữ bị viêm vùng chậu có thể có hoặc không có triệu chứng.
Bệnh viêm vùng chậu là một bệnh nhiễm trùng cơ quan sinh sản ở phụ nữ, ảnh hưởng đến cổ tử cung, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng. Nhiễm trùng này có thể lây truyền qua đường tình dục.
Nhiều loại vi khuẩn khác nhau có thể gây ra viêm vùng chậu. Tuy nhiên, vi khuẩn gây bệnh lậu và Chlamydia lây truyền qua đường tình dục gây ra khoảng 1/3 các trường hợp viêm vùng chậu.
Viêm vùng chậu dẫn đến tổn thương vĩnh viễn cho cơ quan sinh sản. Điều này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như vô sinh và tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung.
Phụ nữ bị viêm vùng chậu có thể xuất hiện dấu hiệu nhưng cũng có người không có triệu chứng. Các triệu chứng cũng có thể nhẹ hoặc bị nhầm lẫn với các tình trạng sức khỏe khác. Khi viêm vùng chậu gây ra các triệu chứng gồm: đau hoặc đau ở xương chậu hoặc bụng, nóng rát khi đi tiểu, đi tiểu thường xuyên. chảy máu bất thường. thay đổi dịch tiết âm đạo, đau khi quan hệ tình dục, sốt, có hoặc không có ớn lạnh.
Vì viêm vùng chậu dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng tiềm ẩn nên điều quan trọng là phải đi khám. Điều trị sớm giúp ngăn ngừa hoặc giảm biến chứng xảy ra do viêm vùng chậu.
1.5. Xoắn buồng trứng
Xoắn buồng trứng là khi buồng trứng xoắn quanh các dây chằng đang giữ nó ở vị trí của nó trong vùng, xương chậu. Điều này có thể cắt đứt nguồn cung cấp máu cho buồng trứng, vòi trứng hoặc cả 2.
Thông thường, xoắn buồng trứng xảy ra do một khối u trên buồng trứng. Điều này là do u nang buồng trứng, hội chứng buồng trứng đa nang, một khối u trên buồng trứng.
Đang mang thai hoặc đang điều trị sinh sản cũng là những yếu tố nguy cơ gây xoắn buồng trứng, do sự mở rộng của các nang buồng trứng. 8 - 15% những phụ nữ bị xoắn buồng trứng đã mang thai.
Các triệu chứng của xoắn buồng trứng như đau vùng chậu đột ngột, dữ dội có thể lan ra bụng, lưng hoặc bên sườn, buồn nôn, nôn. Ngoài ra, cũng có thể có các triệu chứng đến rồi đi trong vài ngày hoặc vài tuần. Điều này có thể xảy ra nếu buồng trứng bị xoắn và sau đó trở lại vị trí bình thường. Xoắn buồng trứng là một cấp cứu phụ khoa cần được điều trị kịp thời.
1.6. Hội chứng tàn dư buồng trứng
Hội chứng tàn dư buồng trứng chỉ xảy ra ở những phụ nữ đã cắt bỏ buồng trứng và ống dẫn trứng. Điều này có thể gây ra nỗi đau hoặc là liên tục hoặc đến và đi. Phụ nữ mắc hội chứng tàn dư buồng trứng cũng có thể bị đau khi quan hệ, khi đi tiểu hoặc đi tiêu.
Một số phụ nữ không gặp bất kỳ triệu chứng nào, tuy nhiên, hầu hết sẽ gặp một số loại triệu chứng trong vòng 5 năm đầu sau phẫu thuật.
2. Đau buồng trứng có phải ung thư buồng trứng không?
Nhiều phụ nữ có thể lo lắng rằng cơn đau buồng trứng là bị ung thư buồng trứng, không nên bỏ qua khả năng này, nhưng ung thư buồng trứng tương đối hiếm.
Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ cho biết nguy cơ mắc ung thư buồng trứng trong đời của phụ nữ là khoảng 1 trên 78. Tỷ lệ phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư buồng trứng cũng đã giảm trong vài thập kỷ qua. Ung thư buồng trứng thường ảnh hưởng đến phụ nữ lớn tuổi, với hầu hết phụ nữ được chẩn đoán ở tuổi 63 trở lên.
Đau buồng trứng có thể do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân không nghiêm trọng nhưng cũng có những nguyên nhân cảnh báo nguy cơ biến chứng sức khỏe nghiêm trọng. Do vậy, nếu bị đau vùng chậu dai dẳng hoặc tái phát hãy đi khám để được bác sĩ chẩn đoán chính xác bệnh và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Dịch tiết màu trắng trước kỳ kinh nguyệt, khi nào đáng lo?
Rotavirus là một bệnh vi khuẩn thường xảy ra phổ biến ở trẻ em. Hằng năm, trên thế giới có hơn 235.000 ca tử vong do virus này gây ra (Theo thống kê của Pubmed Central năm 2019).
Dầu cá là một loại thực phẩm bổ sung được ưa chuộng cho sức khỏe tim mạch. Dầu cá chứa nhiều axit béo omega-3 như EPA và DHA, được biết đến với lợi ích chống viêm và khả năng giảm triglyceride. Nhưng còn cholesterol thì sao? Việc bổ sung dầu cá vào chế độ ăn uống có giúp ích hay gây hại cho chỉ số cholesterol của bạn? Dưới đây là những gì xảy ra với cholesterol của bạn khi bạn bắt đầu sử dụng dầu cá, theo nghiên cứu mới nhất.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Việc thức xuyên đêm để theo dõi các trận bóng đá đỉnh cao là thói quen quen thuộc của nhiều người hâm mộ, nhưng hành động xem tivi hoặc điện thoại liên tục trong nhiều giờ lại tiềm ẩn vô số hệ lụy cho thị lực. Thói quen này dễ dẫn đến các tình trạng tổn thương mắt nghiêm trọng với những triệu chứng khó chịu như ê nhức, đỏ rát và khô mờ. Để có thể vừa cháy hết mình cùng niềm đam mê, vừa bảo vệ và gìn giữ được đôi mắt luôn sáng khỏe, người xem cần biết cách chăm sóc, nghỉ ngơi và bảo vệ mắt hợp lý theo những chia sẻ, khuyến nghị Viện Y học ứng dụng Việt Nam.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”