Hội chứng Marfan
Dấu hiệu rõ ràng nhất của chứng bệnh bao gồm cao và gầy với cánh tay, chân, ngón tay và ngón chân dài bất thường – không cân đối, xương ức lồi ra hay lõm vào, xương sống cong, khớp lỏng lẻo, bàn chân lớn và phẳng, cận thị nặng. Tổn thương do hội chứng Marfan gây ra có thể nhẹ hoặc nặng tùy thuộc vào từng người. Nếu bệnh ảnh hưởng đến động mạch chủ - mạch máu lớn dẫn máu từ tim đến các cơ quan còn lại của cơ thể, tình trạng này có thể trở nên nguy hiểm đến tính mạng.
Hội chứng Marfan được đặt tên theo bác sĩ người Pháp Antoine Marfan, người đầu tiên miêu tả rối loạn này vào năm 1896, được Francesco Ramirez xác định có liên quan tới gen năm 1991. Hội chứng Marfan có tần suất mắc phải là khoảng 1/5000, mang tính di truyền trội (con của bệnh nhân Marfan có xác suất bị bệnh là 50%). Khoảng 25–30% trường hợp là do đột biến, không có tiền sử gia đình. Các dấu hiệu của hội chứng Marfan thay đổi, khác nhau ngay cả với những người trong cùng gia đình.

Các dấu hiệu của hội chứng Marfan rất khác nhau, ngay cả các thành viên trong cùng 1 gia đình. Một số người chỉ gặp phải các tác động nhẹ, nhưng một số lại tiến triển các biến chứng đe dọa tính mạng. Trong hầu hết các trường hợp, bệnh có xu hướng xấu đi theo tuổi tác. Các đặc điểm của hội chứng Marfan có thể bao gồm:
Nguyên nhân gây ra hội chứng Marfan
Hội chứng Marfan gây ra bởi một khiếm khuyết trong gen – loại gen cho phép cơ thể sản xuất ra loại protein cung cấp độ đàn hồi và sức mạnh cho mô liên kết. Hầu hết những người mắc hội chứng Marfan đều thừa hưởng gen đột biến bất thường từ cha hoặc mẹ mắc chứng rối loạn này. Con của người cha - mẹ mắc bệnh có 50% cơ hội thừa hưởng gen khiếm khuyết. Trong khoảng 25% những người mắc hội chứng Marfan, gen bất thường không đến từ cha hoặc mẹ. Trong những trường hợp này, một đột biến mới phát triển một cách tự phát trên những người đó.
Các yếu tố nguy cơ
Hội chứng Marfan ảnh hưởng đến nam giới và nữ giới như nhau, và xảy ra ở tất cả các chủng tộc và dân tộc. Bởi đây là một tình trạng di truyền, yếu tố nguy cơ lớn nhất đối với hội chứng Marfan là có cha hoặc mẹ mắc chứng rối loạn này.
Biến chứng
Vì hội chứng Marfan có thể ảnh hưởng đến hầu hết mọi bộ phận trên cơ thể, nên nó có thể gây ra nhiều biến chứng khác nhau.

Các biến chứng nguy hiểm nhất của hội chứng Marfan là có liên quan đến tim và mạch máu. Mô liên kết tại tim có thể bị lỗi dẫn đến suy yếu động mạch chủ - động mạch lớn xuất phát từ tim và cung cấp máu cho cơ thể.
Các biến chứng về mắt
Các biến chứng về mắt có thể bao gồm:
Biến chứng xương
Hội chứng Marfan làm tăng nguy cơ biến dạng bất thường ở cột sống, chẳng hạn như cong vẹo cột sống. Nó cũng có thể cản trở sự phát triển bình thường của xương sườn, có thể khiến xương ức nhô ra hoặc lõm vào trong lồng ngực. Đau chân và đau thắt lưng cũng là vấn đề thường gặp với hội chứng Marfan.

Hội chứng Marfan có thể làm suy yếu các vách của động mạch chủ. Trong thời kỳ mang thai, tim của bà mẹ mang thai bơm máu nhiều hơn bình thường và điều này có thể gây áp lực căng thẳng thêm cho động mạch chủ - làm tăng nguy cơ bị bóc tách hoặc vỡ động mạch chủ và tăng nguy cơ tử vong.
Tổng kết
Hội chứng Marfan là kết quả của đột biến gen trội trên nhiễm sắc thể thường, gây nhiều biến dạng và khiếm khuyết cho cơ thể. Các biểu hiện khác nhau, nhưng các khuyết tật cấu trúc chủ yếu liên quan đến các hệ thống tim mạch, hệ thống xương và mắt, gây ra biểu hiện đặc biệt của chân tay dài, giãn động mạch chủ, lệch vị trí của thủy tinh thể và đặc biệt vỡ động mạch chủ là biến chứng nguy hiểm nhất. Chẩn đoán hội chứng Marfan cần được thực hiện sớm bằng các xét nghiệm lâm sàng, xét nghiệm di truyền để hạn chế tối đa những hậu quả mà bệnh gây ra.
Tham khảo thêm thông tin tại: Hội chứng Proteus
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.
Trong xu hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên để hỗ trợ sức khỏe, Kim ngân hoa nổi lên như một nguyên liệu tiềm năng nhờ khả năng can thiệp vào các lộ trình tín hiệu liên quan đến stress oxy hóa và viêm.